KINH THÁNH CỰU ƯỚC

I. 1. Sách sáng thế

 

 

  SÁCH THÁNH VỊNH 101-150

(Nguồn copy : https://giotregiaoxutando.wordpress.com/)

Thánh Vịnh 101 (100):

Chân dung của nhà vua lý tưởng

(1) Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.

 

Lạy CHÚA, con xin ca ngợi tình thương và công lý:

con đàn hát kính Ngài.

 

 (2) Con nguyện chủ tâm theo đường hoàn hảo,

bao giờ Ngài mới đến cùng con?

Con sẽ sống theo lòng thuần khiết

ở trong cửa trong nhà.

 

 (3) Việc xấu xa đê tiện, con chẳng để mắt trông.

Con ghét kẻ làm điều tà vạy,

không để cho dính dáng đến mình.

 

 

 (4) Tâm địa gian manh con hằng xa lánh,

chẳng muốn biết gì đến chuyện xấu xa.

 

 (5) Ai nói chùng nói lén, là con sẽ diệt trừ.

Con mắt khinh người, lòng dạ kiêu căng:

những bọn đó, không khi nào con chịu.

 

 (6) Con để mắt kiếm người hiền trong xứ, cho họ được ở gần.

Ai sống đời hoàn hảo, sẽ là người được phục vụ con.

 

 (7) Nhà con ở không hề chứa chấp

kẻ quen trò bịp bợm thói lưu manh.

Hạng nói dối chuyên nghề, con đuổi cho khuất mắt.

 

 (8) Mỗi buổi mai con lại diệt trừ

cho hết phường ác nhân trong xứ sở,

hầu quét sạch khỏi thành đô CHÚA

bọn làm điều ác, chẳng sót một tên.

 

Thánh Vịnh 102 (101):

Lời than van rên siết trong cảnh gian truân

(1) Lời cầu của kẻ gặp khốn khó.

Trong cơn cùng khốn, người này dâng lời than vãn trước ÐỨC CHÚA.

 

(2) Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn,

tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài.

 

 (3) Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt,

trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe

và mau mau đáp lời.

 

 (4) Vì đời con : tháng ngày tan thành khói,

xương tuỷ nóng ran như hoả lò.

 

 (5) Tim héo hắt tựa hồ cỏ giập,

nên chẳng còn tưởng đến miếng ăn.

 

 (6) Vì con những kêu gào rên rẩm

mà thân thể chỉ còn da bọc xương.

 

 (7) Con chẳng khác bồ nông miền sa mạc,

tựa như cú vọ chốn hoang tàn.

 

 (8) Suốt năm canh trằn trọc,

phận như chim lạc đàn đậu mái hiên.

 

 (9) Quân thù địch cả ngày phỉ báng,

giận điên lên, chúng nguyền rủa thân này.

 

 (10) Ăn tro trấu đã thành cơm bữa,

nước mắt hoà nước uống thường khi.

 

(11) Vì Chúa nổi trận lôi đình, ra oai nộ khí,

nhấc con lên, rồi quẳng ra xa.

 

 (12) Ngày tháng đời con : chiều tà bóng ngả,

tấm thân này : cỏ úa vàng khô.

 

 (13) Nhưng lạy CHÚA, muôn đời Ngài ngự trị,

trải bao thế hệ, thiên hạ nhắc đến Ngài.

 

 (14) Chính Ngài sẽ đứng dậy và thương xót Xi-on,

vì nay đã đến thời thi ân giáng phúc.

 

 (15) Bề tôi Ngài lưu luyến đá tường thành sụp đổ,

lòng những xót xa nhìn đống tro tàn.

 

 (16) Bấy giờ chư dân sẽ sợ uy danh CHÚA,

mọi đế vương hoàn cầu uý kính Ngài vinh hiển.

 

 (17) Vì CHÚA sẽ xây dựng lại Xi-on,

sẽ xuất hiện quang vinh rực rỡ.

 

 (18) Người đoái nghe dân bị bóc lột kêu cầu,

chẳng khinh thường lời họ nguyện xin.

 

 (19) Ðiều này phải ghi lại cho đời sau được biết,

dân hậu sinh phải ca tụng CHÚA TRỜI.

 

 (20) Vì CHÚA đưa mắt từ toà cao thánh điện,

từ trời xanh đã nhìn xuống cõi trần,

 

 (21) để nghe kẻ tù đày rên xiết thở than

và phóng thích những người mang án tử.

 

 (22) Rồi ra, ở Xi-on, người người sẽ rao truyền danh thánh CHÚA,

tại Giê-ru-sa-lem, ai nấy ngợi khen Người,

 

 (23) khi mọi nước mọi dân

tập trung về để thờ phượng CHÚA.

 

 (24)Chúa làm tôi kiệt lực giữa đường đời,

tuổi thọ tôi, Người rút ngắn lại.

 

 (25) Con nói : lạy Thiên Chúa của con,

Ngài là Ðấng vạn đại trường tồn,

Xin đừng cất mạng con giữa cuộc đời dang dở.

 

 (26) Xưa Chúa đã đặt nền trái đất,

chính tay Ngài tạo tác vòm trời.

 

 (27) Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài,

chúng như áo cũ thảy rồi mòn hao.

Ngài thay chúng khác nào thay áo,

 

 (28) nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên;

tháng năm Ngài vẫn triền miên.

 

 (29) Con cháu bề tôi sẽ an cư lạc nghiệp,

và dòng giống tồn tại trước nhan Ngài.

 

Thánh Vịnh 103 (102):

ÐỨC CHÚA là Ðấng từ bi nhân hậu

(1) Của vua Ða-vít.

 

Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi,

toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh!

 

 (2) Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi,

chớ khá quên mọi ân huệ của Người.

 

 (3) CHÚA tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi,

thương chữa lành các bệnh tật ngươi.

 

 (4) Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt,

bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà,

 

 (5) ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc,

khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng.

 

 (6) CHÚA phân xử công minh,

bênh quyền lợi những ai bị áp bức,

 

 (7) mặc khải cho Mô-sê biết đường lối của Người,

cho con cái nhà Ít-ra-en

thấy những kỳ công Người thực hiện.

 

 (8) CHÚA là Ðấng từ bi nhân hậu,

Người chậm giận và giàu tình thương,

 

 (9) chẳng trách cứ luôn luôn,

không oán hờn mãi mãi.

 

 (10) Người không cứ tội ta mà xét xử,

không trả báo ta xứng với lỗi lầm.

 

 (11) Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất,

tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.

 

 (12) Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm,

tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.

 

 (13) Như người cha chạnh lòng thương con cái,

CHÚA cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.

 

 (14) Người quá biết ta được nhồi nắn bằng gì,

hẳn Người nhớ : ta chỉ là cát bụi.

 

 (15) Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,

tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,

 

 (16) một cơn gió thoảng là xong,

chốn xưa mình ở cũng không biết mình.

 

 (17) Nhưng ân tình CHÚA thiên thu vạn đại,

dành cho kẻ nào hết dạ kính tôn.

Người xử công minh cả với đời con cháu,

 

 (18) cả những ai giữ giao ước của Người

và nhớ tuân hành mệnh lệnh Người ban.

 

 (19) CHÚA đặt ngai báu trên trời cao thẳm,

quyền đế vương bá chủ muôn loài.

 

 (20) Chúc tụng CHÚA đi, hỡi muôn vì thiên sứ,

bậc anh hùng dũng mạnh thực hiện lời Người,

luôn sẵn sàng phụng lệnh.

 

 (21) Chúc tụng CHÚA đi, toàn thể thiên binh,

hằng hầu cận và tuân hành thánh ý.

 

 (22) Chúc tụng CHÚA đi, muôn vật Chúa tạo thành,

thuộc quyền Người thống trị khắp nơi nơi.

Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!

 

Thánh Vịnh 105 (104):

Lịch sử kỳ diệu của Ít-ra-en (1 Sb 16,8-22)

Ha-lê-luia.

 

 (1) Hãy tạ ơn CHÚA, cầu khẩn danh Người,

vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.

 

 (2) Hát lên đi, đàn ca mừng Chúa,

và suy gẫm mọi kỳ công của Người.

 

 (3) Hãy tự hào vì danh thánh Chúa,

tâm hồn những ai tìm kiếm CHÚA, nào hoan hỷ.

 

 (4) Hãy tìm CHÚA và sức mạnh của Người,

chẳng khi ngừng tìm kiếm Thánh Nhan.

 

 (5) Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện,

những dấu lạ và những quyết định Người phán ra,

 

 (6) hỡi anh em, dòng dõi Áp-ra-ham tôi tớ Chúa,

con cháu Gia-cóp được Người tuyển chọn!

 

 (7) Chính ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng ta,

những điều Người quyết định

là luật chung cho cả địa cầu.

 

 (8) Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,

nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ!

 

 (9) Ðó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham,

đã đoan thề cùng I-xa-ác,

 

 (10) và đặt thành quy luật cho Gia-cóp,

thành giao ước muôn đời cho Ít-ra-en,

 

 (11) rằng : “Ta sẽ cho ngươi đất Ca-na-an

làm kỷ phần gia nghiệp.”

 

 (12) Thuở ấy họ chỉ là một số nhỏ,

một nhóm kiều dân nơi đất khách quê người,

 

 (13) lang thang hết xứ này qua xứ khác,

phiêu bạt từ nước nọ đến nước kia.

 

 (14) Nhưng Chúa vẫn không để cho ai ức hiếp họ;

vì thương họ, Người la rầy vua chúa:

 

 (15) “Ðừng đụng tới những kẻ Ta xức dầu tấn phong,

chớ làm hại các ngôn sứ của Ta.”

 

 (16) Chúa cho nạn đói hoành hành khắp xứ,

làm cạn nguồn lương thực nuôi dân.

 

 (17) Chúa đã phái một người đi trước họ

là Giu-se, kẻ bị bán làm tôi.

 

 (18) Chân ông phải mang xiềng khổ sở,

cổ đeo gông nặng nề,

 

 (19) cho đến ngày ứng nghiệm điều ông tiên đoán

và ông được lời CHÚA giải oan.

 

 (20) Nhà vua, vị thủ lãnh các dân thời đó,

truyền tháo cởi gông xiềng và phóng thích ông,

 

 (21) rồi đặt ông làm tể tướng triều đình,

làm chủ mọi tài sản hoàng gia.

 

 (22) Vua cho ông toàn quyền chỉ đạo hàng khanh tướng,

dạy lẽ khôn ngoan cho bậc lão thành.

 

 (23) Bấy giờ Ít-ra-en trẩy sang Ai-cập,

và Gia-cóp kiều ngụ đất Kham.

 

 (24) Chúa cho dân Người tăng thêm gấp bội,

cho họ mạnh hơn cả đối phương.

 

 (25) Người khiến chúng thay lòng đổi dạ, mà đâm ra thù ghét,

dùng mưu mô chống lại các tôi tớ Người.

 

 (26) Chúa phái tôi tớ Người là Mô-sê,

phái A-ha-ron, kẻ Người tuyển chọn,

 

 (27) đến loan báo những điềm thiêng dấu lạ

trong toàn cõi đất Kham.

 

 (28) Chúa bủa màn đen, khắp nơi đen tối,

mà chúng vẫn cưỡng lại lời Người.

 

 (29) Chúa làm cho nước biến thành máu đỏ, giết sạch loài tôm cá.

 

 (30) Khắp vùng, ếch nhái bỗng tràn lan, nhảy cả vào cung cấm.

 

 (31) Chúa vừa phán, ruồi muỗi từng đàn

ào tới khắp nơi trên lãnh thổ.

 

 (32) Thay mưa mùa, Chúa đổ toàn mưa đá,

phóng lửa hồng thiêu hủy đất đai.

 

 (33) Người tàn phá đồi nho nương vả,

quật đổ cây cối trong khắp cả vùng.

 

 (34) Chúa lại phán, bỗng đâu xuất hiện

vô vàn vô số châu chấu cào cào;

 

 (35) chúng ăn sạch cỏ cây trong nước,

ăn hại hoa màu khắp mọi nơi.

 

 (36) Người giết mọi con đầu lòng bản xứ,

là tinh hoa của cả giống nòi.

 

 (37) Còn dân riêng của Người, Người đưa ra,

mang theo bạc với vàng;

 

 (38) Thấy họ ra đi, dân Ai-cập vui mừng,

vì họ đã làm cho chúng kinh hãi.

 

 (39) Chúa giăng mây làm màn che phủ họ

và cho lửa hồng soi sáng ban đêm.

 

 (40) Họ đòi ăn, Người cho chim cút đến,

và cho họ no nê bánh bởi trời.

 

 (41) Người xẻ đá, nước liền vọt ra

chảy thành sông giữa vùng sa mạc.

 

 (42) Ấy là vì Chúa nhớ lại lời thiêng đã hứa

cùng Áp-ra-ham, tôi tớ của Người.

 

 (43) Chúa đưa dân Người, những kẻ Người đã chọn,

vui vẻ ra đi giữa tiếng reo hò.

 

 (44) Ðất ngoại bang, Người trao tặng họ,

cho thừa hưởng công khó của chư dân,

 

 (45) ngõ hầu họ vâng theo thánh chỉ, và tuân giữ luật Người.

 

Thánh Vịnh 106 (105):

Chúa nhân từ đối với Ít-ra-en luôn bất trung

(1) Ha-lê-luia.

Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (2) Ai sẽ tường thuật những chiến công của CHÚA,

sẽ công bố mọi câu tán tụng Người?

 

 (3) Hạnh phúc thay người giữ đức công minh

và hằng thực thi điều chính trực!

 

 (4) Lạy CHÚA, xin Ngài nhớ đến con bởi lòng thương dân Ngài,

xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ.

 

 (5) Xin cho con được thấy tỏ tường

phần phúc lộc dành cho những người được Chúa chọn,

để chúng con được vui niềm vui dân Chúa

và cùng hiên ngang với gia nghiệp của Ngài.

 

 (6) Cùng các bậc tổ tiên, chúng con đã phạm tội,

đã ở bất công, làm điều gian ác.

 

 (7) Xưa bên Ai-cập, tổ tiên chúng con

đã không hiểu những kỳ công của Chúa,

đã chẳng nhớ ân huệ vô vàn,

và phản loạn ở nơi Biển Ðỏ.

 

 (8) Nhưng vì Thánh Danh, Người thương cứu họ,

để biểu dương uy vũ của Người.

 

 (9) Người ngăm đe Biển Ðỏ, Biển liền cạn khô,

đưa họ đi qua lòng vực thẳm,

khác nào đi giữa chốn hoang vu.

 

 (10) Chúa cứu họ khỏi tay người ghen ghét,

giải thoát họ khỏi tay địch thù:

 

 (11) Nước dìm quân đối nghịch, không một kẻ thoát thân.

 

 (12) Bấy giờ họ mới tin lời Người phán,

và hát lên bài tán tụng Người.

 

 (13) Nhưng rồi họ chóng quên công việc của Chúa,

chẳng đợi lệnh Người ban.

 

 (14) Trong sa mạc, lòng buông theo dục vọng,

chốn hoang vu, họ thách thức Chúa Trời.

 

 (15) Chúa liền ban điều họ đã xin,

cho dư đầy đến độ chán ngấy.

 

 (16) Trong doanh trại, họ ganh với Mô-sê

và A-ha-ron, người được CHÚA thánh hiến.

 

 (17) Ðất bỗng rẽ ra nuốt sống Ða-than,

chôn vùi bọn A-vi-ram cả lũ.

 

 (18) Lửa hồng bừng lên đốt cháy trọn bầy,

ngọn hoả hào thiêu rụi phường gian ác.

 

 (19) Tại Khô-rếp, họ đúc một con bê,

rồi phủ phục tôn thờ tượng đó.

 

 (20) Họ đổi Chúa vinh quang lấy hình bò ăn cỏ.

 

 (21) Họ quên Thiên Chúa là Vị Cứu Tinh

từng làm việc lớn lao bên miền Ai-cập,

 

 (22) việc diệu kỳ trong cõi đất Kham,

việc khiếp kinh giữa lòng Biển Ðỏ.

 

 (23) Chúa tính chuyện sẽ tiêu diệt họ,

nếu người Chúa chọn là Mô-sê

chẳng đem thân cản lối, ở ngay trước mặt Người,

hầu ngăn cơn thịnh nộ, kẻo Chúa diệt trừ dân.

 

 (24) Họ khinh thường miền đất xanh tươi mầu mỡ,

chẳng tin tưởng chi vào lời Chúa phán,

 

 (25) trong lều trại, lẩm bẩm kêu ca,

chẳng thèm nghe tiếng CHÚA.

 

 (26) Người giơ tay trên họ mà thề

sẽ làm họ gục ngã trong miền sa mạc,

 

 (27) bắt giống nòi tản mác giữa chư dân,

phân tán họ đi nhiều miền khác.

 

 (28) Họ suy phục thần Ba-an Pơ-o,

và ăn của lễ cúng dâng người chết,

 

 (29) trêu giận Chúa bằng hành vi ngỗ nghịch,

khiến tai ương ập xuống trên đầu.

 

 (30) Pin-khát liền đứng ra phân xử, tai hoạ bỗng dứt ngay.

 

 (31) Thế nên từ đời nọ đến đời kia, đến thiên thu vạn đại,

việc ông làm được coi như là công chính.

 

 (32) Bên dòng nước Mơ-ri-va, họ trêu giận Người,

khiến Mô-sê vì họ mà chuốc họa vào thân,

 

 (33) bởi họ làm ông trí lòng bực bội,

mở miệng ra ông đã lỡ lời.

 

 (34) Họ đã không diệt trừ những dân

mà CHÚA đã chỉ định,

 

 (35) họ sống chung lộn giữa chư dân,

học đòi những hành vi của chúng.

 

 (36) Họ lấy tượng thần chúng mà thờ:

đó chính là cạm bẫy họ sa chân.

 

 (37) Họ giết con mình cả trai lẫn gái, mà hiến quỷ tế thần.

 

 (38) Họ đổ máu vô tội, máu con trai con gái của mình,

dâng tiến thần Ca-na-an làm tế phẩm,

và vì máu này, đất đã ra ô uế.

 

 (39) Họ đã thành dơ bẩn vì những hành vi đó,

phản bội tình yêu Chúa bằng những việc họ làm.

 

 (40) Trên dân riêng, CHÚA đổ cơn thịnh nộ,

Người tởm kinh gia nghiệp của mình,

 

 (41) phó mặc họ vào tay đám chư dân.

Kẻ thù thống trị họ,

 

 (42) và địch quân áp bức,

dưới bàn tay chúng, họ khom lưng cúi đầu.

 

 (43) Ðã bao lần Chúa thương giải cứu,

nhưng họ vẫn cố tình phản nghịch,

đắm chìm trong tội ác của mình.

 

 (44) Chúa thấy họ truân chuyên ngàn nỗi,

nghe thấy lời cầu cứu van xin.

 

 (45) Chúa nhớ lại giao ước của Người mà giúp họ,

mở lượng hải hà, Người chạnh lòng thương,

 

 (46) và khiến những ai bắt họ đi đày, cũng động lòng trắc ẩn.

 

 (47) Lạy CHÚA là Thiên Chúa chúng con,

xin Ngài thương cứu độ, quy tụ chúng con về

từ giữa muôn dân nước,

để chúng con cảm tạ Thánh Danh

và được hiên ngang tán dương Ngài.

 

 (48) Chúc tụng ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa Ít-ra-en

từ muôn thuở cho đến muôn đời.

Toàn dân hãy hô lớn: A-men! A-men!

 

Thánh Vịnh 107 (106):

Tạ ơn Chúa vì được Người giải thoát

(1) Ha-lê-luia.

Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (2) Họ sẽ cùng nói lên như vậy,

những người được CHÚA thương giải thoát;

giải thoát cho khỏi tay địch thù,

 

 (3) triệu tập về từ bao viễn xứ,

khắp miền nam bắc, khắp ngả đông tây.

 

 (4) Họ lạc bước trong vùng sa mạc, nơi cằn cỗi,

không thấy đường về chốn thành thị để định cư,

 

 (5) vừa đói vừa khát, mạng sống đã hầu tàn.

Khi gặp bước ngặt nghèo,

 

 (6) họ kêu lên cùng CHÚA,

Người đưa tay kéo họ ra khỏi cảnh gian truân,

 

 (7) dắt họ đi thẳng đường ngay lối

về chốn thành thị để định cư.

 

 (8) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,

và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 

 (9) Họng ráo khô, Chúa cho uống phỉ tình,

bụng đói lả, Người cho ăn thoả thích.

 

 (10) Họ phải sống trong cảnh tối tăm mù mịt,

kiếp lầm than xiềng xích gông cùm;

 

 (11) vì họ chống cưỡng lời Thiên Chúa,

dám khinh nhờn lệnh Ðấng Tối Cao,

 

 (12) Người bắt họ nếm mùi gian khổ,

phải lao đao mà không kẻ đỡ nâng.

 

 (13) Khi gặp bước ngặt nghèo, họ kêu lên cùng CHÚA,

Người ra tay cứu họ thoát ngàn nỗi gian truân:

 

 (14) đưa ra khỏi cảnh tối tăm mù mịt

và đập tan xiềng xích gông cùm.

 

 (15) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,

và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 

 (16) Cửa đồng kia, Chúa đã phá tung,

then sắt nọ, tay Người bẻ gãy.

 

 (17) Họ hoá điên trong cuộc đời lầm lỗi,

gánh tội tình đè nặng tấm thân,

 

 (18) mọi thức ăn, họ đều chê chán,

và tiến gần tới cửa âm ty.

 

 (19) Khi gặp bước ngặt nghèo, họ kêu lên cùng CHÚA,

Người ra tay cứu họ thoát ngàn nỗi gian truân.

 

 (20) Sai lời Người đến, chữa cho lành mạnh,

cứu họ khỏi sa hố sâu.

 

 (21) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,

và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 

 (22) Ước chi họ dâng lễ tế tạ ơn Chúa,

cất tiếng hò reo, tường thuật việc Chúa làm.

 

 (23) Họ vượt biển ngược xuôi nghề thương mãi,

giữa trùng dương lèo lái con tàu,

 

 (24) mắt đã tường việc CHÚA làm nên

và kỳ công Người thực hiện giữa dòng nước lũ.

 

 (25) Chúa truyền lệnh khiến bùng lên bão táp,

lớp sóng xô cuồn cuộn dập dồn.

 

 (26) Họ nhô lên tận trời, nhào xuống vực sâu,

lúc nguy hiểm, hồn xiêu phách lạc,

 

 (27) bị quay cuồng, lảo đảo như say,

khéo cùng khôn đã chìm đâu mất.

 

 (28) Khi gặp bước ngặt nghèo, họ kêu lên cùng CHÚA,

Người đưa tay kéo họ ra khỏi cảnh gian truân.

 

 (29) Ðổi phong ba thành gió thoảng nhẹ nhàng,

sóng đang gầm, bỗng đâu im tiếng,

 

 (30) họ vui sướng, vì trời yên bể lặng

và Chúa dẫn đưa về bờ bến mong chờ.

 

 (31) Ước chi họ dâng lời cảm tạ vì tình thương của Chúa,

và vì những kỳ công Chúa đã thực hiện cho người trần.

 

 (32) Ước chi lời họ tán dương Người nơi nhóm họp toàn dân

và ca tụng giữa hội đồng bô lão.

 

 (33) Chúa khiến sông ngòi cạn đi thành sa mạc,

đổi suối nguồn ra hoang địa khô khan,

 

 (34) đất màu mỡ hoá đồng chua nước mặn,

vì dân cư độc ác gian tà.

 

 (35) Người lại biến sa mạc thành hồ ao

và hoang địa khô khan nên nguồn suối.

 

 (36) Kẻ nghèo đói, Người cho đến ở,

họ lập nên thành thị để định cư.

 

 (37) Gieo lúa ngoài ruộng, trồng nho trong vườn,

họ thu hoạch hoa màu lợi tức.

 

 (38) Chúa chúc lành, họ sinh sôi nảy nở,

bầy gia súc, Người không để giảm đi.

 

 (39) Nhưng rồi họ phải tiêu hao lụn bại,

điêu đứng vì tai hoạ với khổ đau.

 

 (40) Chúa đổ nhuốc nhơ xuống hàng quyền thế,

bắt phiêu bạt giữa chốn hoang vu,

không đường ra lối vào.

 

 (41) Nhưng Chúa lại cất nhắc

kẻ nghèo hèn thoát cảnh lầm than,

ban cho cả giống dòng

như chiên cừu sinh năm đẻ bảy.

 

 (42) Người chính trực thấy thế mà mừng rỡ,

bọn gian tà chẳng dám hé môi.

 

 (43) Ai kẻ hiền nhân, hãy để tâm suy nghĩ,

thì sẽ am tường lòng CHÚA thương yêu.

 

Thánh Vịnh 108 (107):

Ca tụng Thiên Chúa và xin Người thương giúp

(1) Thánh ca. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

 

(2) Con vững dạ an lòng, lạy Thiên Chúa,

này con xin đàn hát xướng ca với tất cả tâm hồn.

 

 (3) Thức dậy đi, hỡi đàn sắt đàn cầm,

tôi còn đánh thức cả bình minh.

 

 (4) Lạy THIÊN CHÚA, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ,

giữa lòng muôn nước, con đàn hát xướng ca.

 

 (5) Vì tình thương của Ngài cao ngất trời xanh,

lòng thành tín vượt ngàn mây thẳm.

 

 (6) Lạy Thiên Chúa, xin biểu thị uy phong khắp cõi trời

và chiếu toả vinh quang đầy mặt đất.

 

 (7) Xin ra tay cứu độ, và đáp lời chúng con,

để những kẻ Ngài yêu thương được ơn giải thoát.

 

 (8) Trong thánh điện, Chúa Trời tuyên phán:

Khấp khởi mừng, Ta chia cắt Si-khem,

Ta đo đạc cả đồng bằng Xúc-cốt.

 

 (9) Ga-la-át về Ta, Mơ-na-se cũng về Ta,

Ta lấy Ép-ra-im làm mũ chiến đội đầu,

lấy Giu-đa làm cây gậy chỉ huy.

 

 (10) “Mô-áp là chậu Ta tắm rửa, Ê-đôm là chỗ Ta liệng giày,

đánh bại Phi-li-tinh, Ta reo mừng thắng trận.”

 

 (11) Lạy Thiên Chúa, ai sẽ đưa con vào thành kiên cố,

ai sẽ dắt con đến tận Ê-đôm?

 

 (12) Há chẳng phải chính Ngài,

Ðấng đã từng ruồng bỏ chúng con,

chẳng còn dẫn ba quân xuất trận?

 

 (13) Xin Ngài thương cứu viện, cho chúng con thoát khỏi quân thù,

chứ người phàm giúp đỡ chỉ bằng không.

 

 (14) Có Thiên Chúa, ta sẽ trổ tài oanh liệt,

chính Người chà đạp kẻ thù ta.

 

Thánh Vịnh 109 (108):

Bị kẻ thù nguyền rủa,

xin ÐỨC CHÚA ban phúc lành

(1) Phần nhạc trưởng. Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.

 

 Lạy Thiên Chúa là Ðấng con ca ngợi,

xin Chúa đừng lặng thinh.

 

 (2) Bởi vì kẻ gian ngoa độc dữ mở miệng nhằm hại con,

nói với con toàn lời dối trá,

 

 (3) buông lời hằn học bủa vây con, tấn công con vô cớ.

 

 (4) Con thương nó, nhưng nó lại vu oan,

phần con, con chỉ biết cầu nguyện.

 

 (5) Nó lấy oán đền ơn,

lấy hận thù đáp lại lòng con thương mến.

 

 (6) Xin cho kẻ dữ nổi lên chống nó,

bên phải nó, đặt một người cáo tội đứng kèm.

 

 (7) Ước gì nó phải mang án khi ra khỏi cửa công,

và lời xin ân xá thành lời buộc tội.

 

 (8) Ước gì ngày đời nó bị rút ngắn đi,

chức vụ nó vào tay kẻ khác,

 

 (9) con cái nó trở thành mồ côi,

còn vợ nó ra người goá bụa!

 

 (10) Ước gì con cái nó phải lang thang ăn mày,

bị đuổi ra khỏi nhà, nhà đã tan hoang,

 

 (11) chủ nợ đến vét sạch bạc tiền

và người lạ đoạt hết của mồ hôi nước mắt.

 

 (12) Ước chi chẳng còn ai tình nghĩa gì với nó,

chẳng người nào thương lũ con nó mồ côi,

 

 (13) dòng dõi nó bị tru di tam tộc,

sau một đời, tên tuổi bị xoá nhoà!

 

 (14) Ước gì CHÚA nhớ lại tội cha ông nó,

lỗi của mẹ nó không hề được xoá bỏ đi!

 

 (15) Các tội ấy cứ sờ sờ trước mặt CHÚA,

xin Chúa xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời!

 

 (16) Bởi nó đã chẳng màng điều nhân việc nghĩa,

đã ngược đãi kẻ khó người nghèo

và giết hại cả người đã héo hắt tâm can.

 

 (17) Nó đã thích nguyền rủa,

thì cho lời nguyền rủa đổ lên đầu nó;

nó chẳng ưa chúc lành,

thì cho lời chúc lành bỏ nó mà đi!

 

 (18) Nó đã lấy lời nguyền rủa làm như áo mặc,

thì cho lời nguyền rủa thấm vào thân nó:

như nước thấm ruột gan, như dầu vào xương tủy.

 

 (19) Ước chi lời nguyền rủa như áo choàng quấn chặt lấy nó,

như đai lưng thắt mãi không rời!

 

 (20) Những kẻ vu cáo tôi, những kẻ nói xấu tôi:

ước gì CHÚA trả công như vậy!

 

 (21) Còn Ngài, lạy CHÚA là Thiên Chúa con thờ,

vì danh dự của Ngài, xin bênh đỡ,

vì lòng Ngài yêu thương nhân hậu, xin giải thoát con,

 

 (22) bởi vì con khốn khổ nghèo hèn,

nghe trong mình con tim rướm máu.

 

 (23) Con ra đi, như chiều tà bóng ngả,

bị cuốn lôi đi như gió cuốn cào cào.

 

 (24) Gối rã rời, vì nhịn ăn nhịn uống,

thân xác con gầy còm yếu nhược.

 

 (25) Con bị người đời mắng chửi dể duôi,

trông thấy con là chúng lắc đầu.

 

 (26) Lạy CHÚA là Thiên Chúa của con, xin thương phù hộ,

xin lấy lòng nhân hậu cứu độ con,

 

 (27) để chúng biết rằng chính Ngài, lạy CHÚA,

chính tay Ngài đã làm như vậy!

 

 (28) Chúng cứ nguyền rủa đi,

nhưng phần Ngài, xin Ngài giáng phúc.

Chúng cứ việc nổi dậy chống con,

chúng sẽ phải nhục nhằn xấu hổ.

Nhưng tôi tớ Ngài đây sẽ được vui mừng.

 

 (29) Ước gì những kẻ tố cáo con bị phủ đầy nhục nhã,

bị xấu hổ trùm lên như chiếc áo choàng.

 

 (30) Tôi sẽ hết lời cảm tạ CHÚA,

tán dương Người giữa lòng đại hội,

 

 (31) vì Chúa đứng bên, bênh vực kẻ nghèo hèn,

để cứu độ khỏi tay người kết án.

 

Thánh Vịnh 110 (109):

Ðấng Mê-si-a là Vua và Thượng Tế

(1) Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.

 

Sấm ngôn của ÐỨC CHÚA

Ngỏ cùng Chúa Thượng tôi:

Bên hữu Cha đây, con lên ngự trị,

để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con.”

 

 (2) Từ Xi-on, ÐỨC CHÚA sẽ mở rộng quyền vương đế của Ngài:

Giữa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ.

 

 (3) Ðức Chúa phán bảo rằng:

Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh,

vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh.

Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện,

tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con.”

 

 (4) ÐỨC CHÚA đã một lần thề ước, Người sẽ chẳng rút lời,

rằng: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế

theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.”

 

 (5) Tâu Chúa Thượng, Ðức Chúa ở bên hữu Ngài

sẽ đập tan vương bá ngày phẫn nộ,

 

 (6) sẽ xét xử muôn dân, chất thây ma thành đống,

đập tan bao thủ lãnh trên miền đất mênh mông.

 

 (7) Dọc đường, Chúa Thượng tôi uống nơi mạch suối,

nên sẽ ngẩng đầu thật hiên ngang.

 

Thánh Vịnh 111 (110):

Sự nghiệp ÐỨC CHÚA oai phong hiển hách

(1) Ha-lê-lui-a.

 

 Alép

Tôi xin hết lòng cảm tạ CHÚA,

Bết

trong cộng đoàn chính nhân, giữa lòng đại hội.

 

 Ghi-men

(2) Việc CHÚA làm quả thật lớn lao,

Ða-lét

người mộ mến ra công tìm hiểu.

 

 Hê

(3) Sự nghiệp Chúa oai phong hiển hách,

Vau

đức công chính của Người tồn tại thiên thu.

 

 Da-in

(4) Chúa đã truyền tưởng niệm những kỳ công của Người.

Khết

CHÚA là Ðấng từ bi nhân hậu.

 

 Tết

(5) Ai kính sợ Người, Người ban phát của ăn;

Giốt

giao ước đã lập ra, muôn đời Người nhớ mãi.

 

 Cáp

(6) Sức mạnh việc Người làm, Người cho dân thấy rõ,

La-mét

khi tặng ban cho họ gia sản của chư dân.

 

 Mêm

(7) Những công trình tay Chúa thực hiện

quả là chân thật và công minh.

Nun

Huấn lệnh Người ban đều chắc chắn,

 

 Xa-méc

(8) bền vững đến muôn đời muôn thuở,

A-in

căn cứ vào sự thật lẽ ngay.

 

 Pê

(9) Người đem lại cho dân ơn giải thoát,

Xa-đê

thiết lập giao ước đến muôn đời.

Cốp

Tôn danh Người thánh thiêng khả uý.

 

 Rết

(10) Kính sợ CHÚA là đầu mối khôn ngoan.

Sin

Sáng suốt thay kẻ thực hành như vậy.

Tau

Mãi đến thiên thu còn vang tiếng ngợi khen Người.

 

Thánh Vịnh 112 (111):

Hạnh phúc thay người công chính

(1) Ha-lê-lui-a.

Alép

Hạnh phúc thay, người kính sợ CHÚA,

Bết

những ưa cùng thích mệnh lệnh Chúa truyền ban.

 

 Ghi-men

(2) Trên mặt đất, con cháu của họ sẽ hùng cường,

Ða-lét

dòng dõi kẻ ngay lành được Chúa thương giáng phúc.

 

 Hê

(3) Gia đình họ phú quý giàu sang,

Vau

đức công chính của họ tồn tại muôn đời.

 

 Da-in

(4) Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng

chiếu rọi kẻ ngay lành:

Khết

đó là người từ bi nhân hậu và công chính.

 

 Tết

(5) Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn,

Giốt

biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình.

 

 Cáp

(6) Họ sẽ không bao giờ lay chuyển,

La-mét

thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân.

 

 Mêm

(7) Họ không lo phải nghe tin dữ,

Nun

hằng an tâm và tin cậy CHÚA,

 

 Xa-méc

(8) luôn vững lòng không sợ hãi chi

A-in

và rốt cuộc coi khinh lũ địch thù.

 

 Pê

(9) Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc,

Xa-đê

đức công chính của họ tồn tại muôn đời.

Cốp

uy thế họ vươn cao rực rỡ.

 

 Rết

(10) Thấy cảnh này ác nhân tức giận,

Sin

nghiến răng nghiến lợi và mòn mỏi héo hon,

Tau

ước vọng của ác nhân sẽ chẳng còn.

 

Thánh Vịnh 113 (112):

Danh Chúa đáng ca ngợi

(1) Ha-lê-lui-a.

Hỡi tôi tớ CHÚA, hãy dâng lời ca ngợi,

Nào ca ngợi danh thánh CHÚA đi!

 

 (2) Chúc tụng danh thánh CHÚA,

tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!

 

 (3) Ca ngợi danh thánh CHÚA,

từ rạng đông tới lúc chiều tà!

 

 (4) CHÚA siêu việt trên hết mọi dân,

vinh quang Người vượt xa trời cao thẳm.

 

 (5) Ai sánh tày THƯỠNG ÐẾ Chúa ta, Ðấng ngự chốn cao vời,

 

 (6) cúi xuống để nhìn xem bầu trời trái đất?

 

 (7) Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,

ai nghèo túng, Người cất nhắc lên từ đống phân tro,

 

 (8) đặt ngồi chung với hàng quyền quý, hàng quyền quý dân Người.

 

 (9) Người làm cho đàn bà son sẻ

thành mẹ đông con, vui cửa vui nhà.

 

Thánh Vịnh 114 (113A):

Thiên Chúa cho Ít-ra-en

vượt qua Biển Ðỏ và sông Gio-đan

(1) Ha-lê-lui-a.

Thuở Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập,

thuở nhà Gia-cóp rời bỏ ngoại bang,

 

 (2) thì Giu-đa trở thành nơi Chúa ngự,

Ít-ra-en nên lãnh địa của Người.

 

 (3) Vừa thấy thế, biển liền trốn chạy,

sông Gio-đan cũng chảy ngược dòng.

 

 (4) Ví tựa bầy chiên, núi đồi nhảy nhót,

như thể đàn cừu, gò nổng tung tăng.

 

 (5) Biển kia ơi, việc gì mà trốn chạy?

Gio-đan hỡi, cớ chi chảy ngược dòng?

 

 (6) Kìa núi đồi, sao nhảy nhót ví tựa bầy chiên?

Này gò nổng, sao tung tăng như thể đàn cừu?

 

 (7) Trước thánh nhan Chúa, hỡi địa cầu, hãy rung chuyển,

trước thánh nhan Chúa Trời nhà Gia-cóp,

 

 (8) Người biến đá tảng thành hồ ao,

và sỏi đá nên mạch nước dồi dào.

 

Thánh Vịnh 115 (113B):

Ca tụng ÐỨC CHÚA,

Ðấng duy nhất và nhân hậu

(1) Xin đừng làm rạng rỡ chúng con, vâng lạy CHÚA, xin đừng,

nhưng xin cho danh Ngài rạng rỡ,

bởi vì Ngài thành tín yêu thương.

 

 (2) Sao chư dân lại nói: “Thiên Chúa chúng ở đâu?”

 

 (3) Thiên Chúa chúng ta ở trên trời,

muốn làm gì là Chúa làm nên.

 

 (4) Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc,

chỉ do tay người thế tạo thành.

 

 (5) Có mắt có miệng, không nhìn không nói,

 

 (6) có mũi có tai, không ngửi không nghe.

 

 (7) Có hai tay, không sờ không mó

có hai chân, không bước không đi,

từ cổ họng, không thốt ra một tiếng.

 

 (8) Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần

cũng giống như chúng vậy.

 

 (9) Nhà Ít-ra-en, hãy tin cậy CHÚA,

chính Chúa độ trì, làm thuẫn đỡ khiên che.

 

 (10) Nhà A-ha-ron, hãy tin cậy CHÚA,

chính Chúa độ trì, làm thuẫn đỡ khiên che.

 

 (11) Ai kính sợ CHÚA, hãy tin cậy CHÚA,

chính Chúa độ trì, làm thuẫn đỡ khiên che.

 

 (12) CHÚA nhớ đến ta và sẽ ban phúc cả:

sẽ ban phúc cho nhà Ít-ra-en,

sẽ ban phúc cho nhà A-ha-ron,

 

 (13) sẽ ban phúc cho người kính sợ CHÚA,

cho người lớn cũng như trẻ nhỏ.

 

 (14) Nguyện xin CHÚA rộng rãi thi ân

cho anh em và cho con cháu.

 

 (15) Nguyện xin CHÚA, Ðấng dựng nên đất trời,

xuống muôn phúc lành cho anh em.

 

 (16) Trời là trời của CHÚA,

còn đất thì Chúa cho con cái loài người.

 

 (17) Không phải người đã chết,

hay mọi kẻ bước vào

cõi thinh lặng ngàn thu

sẽ ca tụng ÐỨC CHÚA;

 

 (18) nhưng là chính chúng ta,

những người còn đang sống,

chúng ta chúc tụng CHÚA

từ nay đến muôn đời.

 

Thánh Vịnh 116 (114-115):

Lời kinh tạ ơn

(1) Lòng tôi yêu mến Chúa, vì CHÚA đã nghe tiếng tôi khẩn nài,

 

 (2) Người lại lắng tai ngày tôi kêu cứu.

 

 (3) Dây tử thần đã bủa vây tôi chằng chịt,

lưới âm ty chụp xuống trên mình.

 

 (4) Gặp gian truân sầu khổ, tôi đã kêu cầu danh CHÚA:

Ôi lạy CHÚA, xin cứu gỡ mạng con!”

 

 (5) CHÚA là Ðấng nhân từ chính trực,

Thiên Chúa chúng ta một dạ xót thương,

 

 (6) hằng gìn giữ những ai bé mọn,

tôi yếu đuối, Người đã cứu tôi.

 

 (7) Hồn tôi hỡi, thôi bình tĩnh lại,

vì trên ngươi, CHÚA đã xuống ơn lành;

 

 (8) Chúa cứu gỡ mạng tôi khỏi chết,

giữ mắt này chẳng còn đẫm lệ,

ngăn ngừa tôi khỏi phải hụt chân.

 

 (9) Tôi sẽ bước đi trước mặt Người

trong cõi đất dành cho kẻ sống.

 

 (10) Tôi đã tin cả khi mình đã nói: “Ôi nhục nhã ê chề!”

 

 (11) Ðã thốt ra trong cơn hốt hoảng: “Mọi người đều giả dối!”

 

 (12) Biết lấy chi đền đáp CHÚA bây giờ

vì mọi ơn lành Người đã ban cho?

 

 (13) Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ

và kêu cầu thánh danh ÐỨC CHÚA.

 

 (14) Lời khấn nguyền với CHÚA, tôi xin giữ trọn,

trước toàn thể dân Người.

 

 (15) Ðối với CHÚA thật là đắt giá

cái chết của những ai trung hiếu với Người.

 

 (16) Vâng lạy CHÚA, thân này là tôi tớ,

tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài,

xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi.

 

 (17) Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh ÐỨC CHÚA.

 

 (18) Lời khấn nguyền với CHÚA, tôi xin giữ trọn,

trước toàn thể dân Người,

 

 (19) tại khuôn viên đền CHÚA, giữa lòng ngươi, hỡi Giê-ru-sa-lem!

Ha-lê-lui-a.

 

Thánh Vịnh 117 (116):

Kêu gọi mọi người ca tụng Chúa

(1) Muôn nước hỡi, nào ca ngợi CHÚA,

ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người! (2) Vì tình Chúa thương ta thật là mãnh liệt,

lòng thành tín của Người bền vững muôn năm. Ha-lê-lui-a.

 

Thánh Vịnh 118 (117):

Tạ ơn sau cuộc chiến thắng

(1) Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (2) Ít-ra-en hãy nói lên rằng:

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (3) Nhà A-ha-ron hãy nói lên rằng:

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (4) Ai kính sợ CHÚA hãy nói lên rằng:

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (5) Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu CHÚA,

CHÚA đáp lời và giải thoát tôi.

 

 (6) Có CHÚA ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì,

hỏi người đời làm chi tôi được?

 

 (7) Có CHÚA ở cùng tôi mà bênh đỡ,

tôi dám nghênh lũ địch thù tôi.

 

 (8) Ẩn thân bên cạnh CHÚA TRỜI,

thì hơn tin cậy ở người trần gian.

 

 (9) Cậy vào thần thế vua quan,

chẳng bằng ẩn náu ở bên CHÚA TRỜI.

 

 (10) Chư dân xúm lại bủa vây tôi,

nhờ danh CHÚA, tôi đã trừ diệt chúng.

 

 (11) Chúng bủa vây tôi, trùng điệp tư bề,

nhờ danh CHÚA, tôi đã trừ diệt chúng.

 

 (12) Chúng bủa vây tôi như thể bầy ong,

chúng như lửa bụi gai cháy bừng bừng,

nhờ danh CHÚA, tôi đã diệt trừ chúng.

 

 (13) Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã,

nhưng CHÚA đã phù trợ thân này.

 

 (14) CHÚA là sức mạnh tôi, là Ðấng tôi ca ngợi,

chính Người cứu độ tôi.

 

 (15) Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng

trong doanh trại chính nhân:

 

 (16) “Tay hữu CHÚA đã ra oai thần lực, tay hữu CHÚA giơ cao,

tay hữu CHÚA đã ra oai thần lực.”

 

 (17) Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống,

để loan báo những công việc CHÚA làm.

 

 (18) Sửa phạt tôi, vâng CHÚA sửa phạt tôi,

nhưng không nỡ để tôi phải chết.

 

 (19) Xin mở cửa công chính cho tôi

để tôi vào tạ ơn ÐỨC CHÚA.

 

 (20) Ðây là cửa dẫn vào nơi CHÚA ngự,

chỉ những người công chính mới được qua.

 

 (21) Lạy Chúa, con xin tạ ơn Ngài

vì đã đáp lời con và thương cứu độ.

 

 (22) Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ

lại trở nên đá tảng góc tường.

 

 (23) Ðó chính là công trình của CHÚA,

công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.

 

 (24) Ðây là ngày CHÚA đã làm ra,

nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.

 

 (25) Lạy CHÚA, xin ban ơn cứu độ,

Lạy CHÚA, xin thương giúp thành công.

 

 (26) Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành

cho người tiến vào đây nhân danh CHÚA.

Từ nhà CHÚA, chúng tôi chúc lành cho anh em.

 

 (27) ÐỨC CHÚA là Thượng Ðế, Người giãi sáng trên ta.

Tay cầm lá, hãy sắp thành đám rước đến bên cạnh bàn thờ.

 

 (28) Lạy Chúa, chính Ngài là Thiên Chúa của con,

xin dâng Ngài muôn câu cảm tạ;

lạy Thiên Chúa con thờ, xin dâng Ngài vạn tiếng tôn vinh.

 

 (29) Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

Thánh Vịnh 119 (118):

Ca ngợi Lề Luật

A-lép

 

 (1) Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện,

biết noi theo luật pháp CHÚA TRỜI.

 

 (2) Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa,

hết lòng hết dạ kiếm tìm Người.

 

 (3) Họ không làm điều ác, nhưng cứ đường lối Chúa mà đi.

 

 (4) Vâng lạy Chúa, Ngài đã ban huấn lệnh,

truyền chúng con vâng giữ vẹn toàn.

 

 (5) Ước mong sao con hằng vững bước

theo thánh chỉ Ngài ban.

 

 (6) Ðể con không xấu hổ

khi nhìn lại các mệnh lệnh của Ngài.

 

 (7) Con thành tâm dâng lời cảm tạ

vì được biết những quyết định công minh.

 

 (8) Thánh chỉ Ngài, con xin tuân giữ,

xin Ngài đừng nỡ bỏ rơi con.

 

 Bết

 

 (9) Làm thế nào giữ được tuổi xuân trong trắng?

Thưa phải tuân theo lời Chúa dạy.

 

 (10) Lạy Chúa, con hết dạ kiếm tìm Ngài,

xin chớ để con làm sai mệnh lệnh Chúa.

 

 (11) Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ,

để chẳng bao giờ bội nghĩa bất trung.

 

 (12) Lạy CHÚA, con dâng lời ca tụng,

thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.

 

 (13) Môi con hằng nhẩm đi nhắc lại,

các quyết định miệng Ngài phán ra.

 

 (14) Tuân theo thánh ý Ngài, con vui sướng

hơn là được tiền rừng bạc bể.

 

 (15) Con sẽ gẫm suy huấn lệnh Chúa truyền,

đưa mắt nhìn theo đường lối Chúa.

 

 (16) Con vui thú với thánh chỉ Ngài

chẳng quên lời Ngài phán.

 

 Ghi-men

 

 (17) Xin tỏ lòng nhân hậu cùng tôi tớ Chúa đây

để con được sống và tuân giữ lời Ngài.

 

 (18) Xin mở mắt cho con nhìn thấy

luật pháp Ngài kỳ diệu biết bao.

 

 (19) Ở trên đời, con là thân lữ khách,

mệnh lệnh Ngài, xin đừng nỡ giấu con.

 

 (20) Hồn con những khát khao mòn mỏi,

hằng chờ mong quyết định của Ngài.

 

 (21) Chúa ngăm đe bọn người ngạo mạn,

khốn cho kẻ làm sai mệnh lệnh Ngài!

 

 (22) Xin đừng để con phải nhuốc nha tủi hổ,

vì thánh ý Ngài, con vẫn tuân theo.

 

 (23) Mặc quan quyền họp nhau mưu hại,

tôi tớ Ngài đây cứ gẫm suy thánh chỉ.

 

 (24) Vâng, thánh ý Ngài làm con vui sướng thoả thuê,

chỉ bảo con như những người cố vấn.

 

 Ða-lét

 

 (25) Tấm thân này bị nhận xuống bùn đen,

theo lời Ngài, xin cho con được sống.

 

 (26) Con kể lể đường đời, Chúa đáp lại,

xin dạy cho con biết thánh chỉ Ngài.

 

 (27) Ðường lối huấn lệnh Ngài, xin cho con hiểu rõ,

để con suy gẫm những kỳ công của Ngài.

 

 (28) Con đã phải buồn sầu ứa lệ,

như lời Ngài phán, xin đỡ con lên.

 

 (29) Xin giúp con tránh đường xảo trá

và thương ban cho con luật pháp Ngài.

 

 (30) Ðường chân lý, này con đã chọn,

quyết định của Ngài, con khao khát đợi trông.

 

 (31) Con thiết tha với thánh ý Ngài, lạy CHÚA,

xin đừng để con phải nhục nhã ê chề.

 

 (32) Ðược Chúa thương mở lòng mở trí,

con chạy theo đường mệnh lệnh của Ngài.

 

 Hê

 

 (33) Lạy CHÚA, xin dạy con đường lối thánh chỉ,

con nguyện đi theo mãi đến cùng.

 

 (34) Xin cho con được trí thông minh

để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ.

 

 (35) Trên đường mệnh lệnh Chúa, xin dẫn con đi,

vì con ưa thích đường lối đó.

 

 (36) Xin hướng lòng con nghiêng về thánh ý,

không ngả theo lợi lộc tiền tài.

 

 (37) Xin giữ mắt này khỏi nhìn theo những gì hư ảo,

và cho con được sống nhờ đường lối của Ngài.

 

 (38) Xin thực hiện cho tôi tớ Ngài đây lời đã hứa,

để người người kính sợ Thánh Danh.

 

 (39) Xin giữ con khỏi nỗi nhục nhằn con vẫn sợ,

vì quyết định của Ngài tốt đẹp dường bao!

 

 (40) Con khát khao huấn lệnh của Ngài,

vì Ngài công chính, xin cho con được sống.

 

 Vau

 

 (41) Lạy CHÚA, xin cho con được hưởng tình thương Chúa,

và ơn cứu độ, theo lời hứa của Ngài.

 

 (42) Con sẽ đối đáp với người lăng nhục,

vì con tin cậy ở lời Ngài.

 

 (43) Xin đừng cất khỏi miệng con lời chân lý,

vì quyết định của Ngài, con vẫn cậy trông.

 

 (44) Luật pháp Ngài, con nguyện hằng tuân giữ

tới muôn thuở muôn đời.

 

 (45) Con thảnh thơi tiến bước,

vì huấn lệnh của Ngài, con mải miết dõi theo.

 

 (46) Trước mặt vua quan, con giãi bày thánh ý,

lòng không chút hỗ ngươi.

 

 (47) Con vui thú với mệnh lệnh của Ngài

và hết lòng yêu mến.

 

 (48) Mệnh lệnh Ngài, con giơ tay đón nhận,

thánh chỉ Ngài, con sẽ gẫm suy.

 

 Da-in

 

 (49) Xin Chúa nhớ lại lời phán cùng tôi tớ,

lời ban niềm hy vọng cho con.

 

 (50) Lời hứa của Ngài làm cho con được sống,

đó là điều an ủi con trong cảnh khốn cùng.

 

 (51) Phường kiêu ngạo nặng lời chế diễu,

nhưng luật Ngài, con chẳng lìa xa.

 

 (52) Lạy CHÚA, con nhớ lại quyết định xưa của Ngài,

và lòng đầy an ủi.

 

 (53) Con nổi giận với bọn ác nhân,

vì chúng đã bỏ quên luật Chúa.

 

 (54) Thánh chỉ Ngài là khúc nhạc của con,

giữa cảnh đời tha hương lữ thứ.

 

 (55) Suốt đêm trường, con nhắc nhở Thánh Danh,

và lạy CHÚA, con sẽ tuân thủ luật Ngài.

 

 (56) Huấn lệnh Chúa truyền, con lo vâng giữ,

đó chính là nhiệm vụ của con.

 

 Khết

 

 (57) Lạy CHÚA, con đã nói:

phần của con là tuân giữ lời Ngài.

 

 (58) Con hết lòng xin Chúa bao dung,

xót phận con như lời Ngài đã hứa.

 

 (59) Con xét lại đường lối con đi,

và quay gót trở về cùng thánh ý.

 

 (60) Con mau lẹ chứ không trì hoãn

tuân theo mệnh lệnh Ngài.

 

 (61) Con bị lưới ác nhân vây bủa,

Nhưng luật Ngài, con vẫn không quên.

 

 (62) Nửa đêm con thức dậy tạ ơn Chúa,

vì quyết định của Ngài thật công minh.

 

 (63) Con làm bạn với mọi người kính sợ Chúa

và những ai tuân giữ huấn lệnh Ngài.

 

 (64) Lạy CHÚA, trái đất tràn đầy tình thương Chúa,

thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.

 

 Tết

 

 (65) Lạy CHÚA, Chúa hậu đãi tôi tớ Ngài đây,

như lời Ngài đã phán.

 

 (66) Xin dạy con hiểu cho tường, xét cho đúng,

vì con vẫn tin vào mệnh lệnh Ngài.

 

 (67) Con lầm lạc khi chưa bị khổ,

nhưng giờ đây chú tâm đến lời hứa của Ngài.

 

 (68) Chúa nhân hậu, hay làm ơn làm phúc,

thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.

 

 (69) Nhằm hại con, bọn kiêu căng đặt điều bôi nhọ,

nhưng huấn lệnh Ngài ban, con vâng giữ hết lòng.

 

 (70) Như đầy ứ mỡ, lòng chúng ra ngu muội,

phần con vẫn vui thú với luật Ngài.

 

 (71) Ðau khổ quả là điều hữu ích,

để giúp con học biết thánh chỉ Ngài.

 

 (72) Con coi trọng luật Chúa truyền ban

hơn vàng muôn bạc triệu.

 

 Giốt

 

 (73) Tay Chúa đã nắn con nên hình nên dạng,

xin mở trí cho con học biết mệnh lệnh Ngài.

 

 (74) Kẻ kính sợ Ngài thấy con mà hoan hỷ,

vì con trông cậy ở lời Ngài.

 

 (75) Lạy CHÚA, con biết: quyết định của Ngài thật công minh,

Ngài làm con khổ nhục cũng là đúng lý.

 

 (76) Xin Chúa lấy tình thương mà an ủi,

theo lời đã hứa với tôi tớ Ngài đây.

 

 (77) Xin chạnh lòng thương cho con được sống,

vì luật Ngài làm con vui sướng thoả thuê.

 

 (78) Nhục cho bọn kiêu kỳ hành hạ con vô cớ,

phần con vẫn gẫm suy huấn lệnh Ngài.

 

 (79) Kẻ kính sợ Ngài, kẻ am tường thánh ý,

mong sao họ quay về với con.

 

 (80) Xin cho con hết lòng tuân theo thánh chỉ,

để con khỏi nhục nhã ê chề.

 

 Cáp

 

 (81) Hồn tiêu hao đợi trông Ngài cứu độ,

con vẫn trông cậy ở lời Ngài.

 

 (82) Mòn đôi mắt bởi mong điều Chúa hứa,

con tự nhủ: đến bao giờ Ngài mới ủi an?

 

 (83) Dù có như bầu da gác bếp,

con cũng chẳng quên thánh chỉ Ngài.

 

 (84) Tôi tớ Ngài đây còn sống được bao lăm?

Kẻ ngược đãi con, khi nào Ngài mới xử?

 

 (85) Phường kiêu ngạo đào hố để hại con,

chẳng kể gì luật Chúa.

 

 (86) Mệnh lệnh Chúa thảy đều chân thật,

con bị ngược đãi vô cớ, xin cứu giúp con cùng!

 

 (87) Một chút nữa là chúng diệt con trên đất này,

nhưng con chẳng bỏ huấn lệnh Ngài ban.

 

 (88) Xin lấy lòng nhân hậu mà cho con được sống,

thánh ý của Ngài, con sẽ tuân theo.

 

 La-mét

 

 (89) Muôn lạy CHÚA, lời Ngài bền vững

đến ngàn đời, trên cõi trời cao.

 

 (90) Lòng thành tín Chúa trải bao thế hệ,

Ngài củng cố địa cầu, địa cầu tồn tại mãi.

 

 (91) Theo quyết định Chúa, mọi loài tồn tại mãi đến nay,

vì muôn sự đều phục vụ Chúa.

 

 (92) Nếu luật Ngài chẳng làm con vui thoả,

gặp cơn khổ nhục, con đã tiêu vong.

 

 (93) Con nguyện chẳng hề quên huấn lệnh Ngài,

vì nhờ đó, Ngài đã cho con được sống.

 

 (94) Con thuộc về Chúa, xin Ngài cứu độ,

bởi con tìm kiếm huấn lệnh Ngài.

 

 (95) Bọn gian ác rình hãm hại con,

thánh ý Ngài, con chú tâm suy gẫm.

 

 (96) Mọi sự toàn hảo, con thấy đều hữu hạn,

nhưng mệnh lệnh Ngài trải rộng vô biên.

 

 Mêm

 

 (97) Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao,

suốt ngày cứ suy đi gẫm lại!

 

 (98) Mệnh lệnh Chúa làm con khôn hơn địch thủ,

vì con hằng ấp ủ mệnh lệnh đó trong lòng.

 

 (99) Con được thông suốt hơn cả thầy dạy,

vì con thường gẫm suy thánh ý;

 

 (100) am hiểu hơn các bậc lão thành,

bởi huấn lệnh Ngài, con đã tuân theo.

 

 (101) Mọi nẻo đường tà, chân con chẳng bước,

cốt làm sao giữ được lời Ngài.

 

 (102) Con chẳng lìa xa điều Ngài quyết định,

bởi chính Ngài chỉ giáo cho con.

 

 (103) Con cảm thấy lời Ngài đã hứa

ngọt ngào hơn mật ong trong miệng.

 

 (104) Con thành người sáng suốt nhờ huấn lệnh Ngài ban,

nên con ghét mọi đường nẻo gian tà.

 

 Nun

 

 (105) Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,

là ánh sáng chỉ đường con đi.

 

 (106) Con đã thề và con xin cam kết

giữ quyết định công minh của Ngài.

 

 (107) Lạy CHÚA, thân con bị muôn phần khổ nhục,

theo lời Ngài, xin cho con được sống.

 

 (108) Lạy CHÚA, xin khứng nhận lời tán tạ con dâng

và dạy con biết những quyết định của Ngài.

 

 (109) Mạng sống này luôn lâm vòng nguy hiểm,

song luật Ngài, con vẫn không quên.

 

 (110) Nhằm hại con, bọn ác nhân gài bẫy,

nhưng con chẳng lạc xa huấn lệnh Ngài.

 

 (111) Thánh ý Ngài là gia nghiệp con mãi mãi,

vì đó là hoan lạc của lòng con.

 

 (112) Con hướng lòng quyết thực thi thánh chỉ,

mãi mãi cho đến cùng.

 

 Xa-méc

 

 (113) Kẻ hai lòng, con chê con ghét,

nhưng luật Ngài, con chuộng con yêu.

 

 (114) Chúa là nơi con ẩn náu, là thuẫn đỡ,

con vẫn trông cậy ở lời Ngài.

 

 (115) Ði cho rảnh mắt ta, hỡi phường tác hại,

để ta còn tuân giữ mệnh lệnh Chúa ta.

 

 (116) Theo lời Chúa hứa, xin cho con được sống,

đừng để con thất vọng ê chề.

 

 (117) Xin phù trợ để con được cứu,

và con sẽ luôn luôn nhìn ngắm thánh chỉ Ngài.

 

 (118) Những ai xa lìa thánh chỉ, Chúa đều khinh,

vì mánh lới họ là trò gạt gẫm.

 

 (119) Mọi ác nhân trên đời, Chúa coi như rỉ sắt,

nên con đã mến yêu thánh ý Ngài.

 

 (120) Kinh hãi Chúa, con rùng mình sởn ốc,

quyết định Ngài làm cho con những sợ cùng lo.

 

 A-in

 

 (121) Con đã làm điều chính trực công minh,

xin đừng bỏ mặc con cho bọn người ức hiếp.

 

 (122) Hạnh phúc tôi tớ Ngài đây, xin bảo đảm,

để phường kiêu ngạo đừng ức hiếp thân này.

 

 (123) Con mỏi mắt trông ơn Ngài cứu độ,

trông lời hứa công chính của Ngài.

 

 (124) Với tôi tớ này, xin lấy tình thương mà đối xử,

thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.

 

 (125) Con là tôi tớ Ngài, xin ban trí thông minh,

để con được am tường thánh ý.

 

 (126) Ðã đến thời CHÚA ra tay hành động,

vì người ta vi phạm luật Ngài.

 

 (127) Vì thế, mệnh lệnh Ngài, con yêu quý,

quý hơn vàng, hơn cả vàng y.

 

 (128) Vì thế, theo mọi huấn lệnh Ngài, con thẳng bước,

lòng ghét mọi đường nẻo gian tà.

 

 Pê

 

 (129) Thánh ý Chúa kỳ diệu lắm thay,

nên hồn con tuân giữ.

 

 (130) Giải thích lời Ngài là đem lại ánh sáng

cho kẻ đơn sơ thông hiểu am tường.

 

 (131) Con há miệng và con hớp lấy,

vì khát khao mệnh lệnh của Ngài.

 

 (132) Xin đoái nhìn con và động lòng trắc ẩn,

như đã quyết định cho người mến Thánh Danh.

 

 (133) Theo lời hứa của Ngài, xin cho con vững bước,

chớ để sự gian tà chế ngự được con;

 

 (134) cứu con khỏi ác nhân hà hiếp,

con sẽ tuân theo huấn lệnh của Ngài.

 

 (135) Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Chúa,

thánh chỉ Ngài, xin dạy bề tôi.

 

 (136) Mắt này suối lệ tuôn rơi,

bởi chưng luật Chúa người đời chẳng tuân.

 

 Xa-đê

 

 (137) Lạy CHÚA, Ngài quả là chính trực,

quyết định của Ngài thật công minh.

 

 (138) Ngài đem thánh ý ban hành,

thảy đều một mực chí thành chí công.

 

 (139) Lửa nhiệt thành làm con héo hắt,

bởi kẻ thù con đã quên lời Ngài.

 

 (140) Lời hứa của Ngài được hoàn toàn chứng nghiệm,

nên tôi tớ Ngài yêu chuộng thiết tha.

 

 (141) Dầu hèn mọn và bị người khinh dễ

huấn lệnh Ngài, con cũng chẳng quên.

 

 (142) Công lý của Chúa: công lý trường tồn,

luật Chúa truyền ban quả là chân lý.

 

 (143) Khốn khổ ngặt nghèo tuy ập xuống thân con,

mệnh lệnh Ngài vẫn làm con vui thoả.

 

 (144) Thánh ý Ngài mãi mãi công minh,

xin cho hiểu ngọn nguồn, để con được sống.

 

 Cốp

 

 (145) Con kêu van hết lòng, lạy CHÚA, xin đáp lại,

thánh chỉ Ngài, con sẽ vâng theo.

 

 (146) Con kêu lên Chúa, xin Ngài cứu chữa,

để con tuân giữ thánh ý Ngài.

 

 (147) Hừng đông chưa xuất hiện, con đã kêu xin,

con hằng cậy trông ở lời Chúa.

 

 (148) Canh khuya chưa tàn, này mắt con đã mở,

để suy niệm lời hứa của Ngài.

 

 (149) Xin nghe tiếng con, lạy CHÚA, bởi vì Ngài nhân hậu,

theo quyết định của Ngài, xin cho con được sống.

 

 (150) Bọn bất lương sống xa luật Ngài

đã đến gần con mà bách hại.

 

 (151) Nhưng lạy CHÚA, Chúa ở gần bên con,

mệnh lệnh Chúa đều là chân lý.

 

 (152) Về thánh ý, từ lâu con đã hiểu:

Ngài đã thiết lập đến muôn đời.

 

 Rết

 

 (153) Con khổ cực, xin Chúa đoái nhìn và giải thoát,

vì con chẳng quên luật pháp Ngài.

 

 (154) Xin biện hộ và cứu chuộc con,

theo lời hứa của Ngài, xin cho con được sống.

 

 (155) Ơn cứu độ ở xa kẻ dữ,

bởi chúng không tìm kiếm thánh chỉ Ngài.

 

 (156) Lạy CHÚA, lòng thương xót của Ngài thật bao la,

theo quyết định của Ngài, xin cho con được sống.

 

 (157) Những kẻ bắt bớ hành hạ con thật là nhiều,

nhưng thánh ý Ngài, con chẳng lìa xa.

 

 (158) Con nhìn quân phản phúc mà ghê tởm,

lời hứa của Ngài, chúng chẳng quan tâm.

 

 (159) Chúa thấy cho: lòng con mộ mến huấn lệnh Ngài,

lạy CHÚA, vì Ngài nhân hậu, xin cho con được sống.

 

 (160) Căn nguyên lời Ngài là chân lý,

mọi quyết định công minh của Ngài tồn tại muôn năm.

 

 Sin

 

 (161) Quan quyền bách hại con vô cớ,

nhưng lòng này sợ lời Chúa mà thôi.

 

 (162) Con mừng vui vì lời hứa của Ngài,

như kẻ thâu được nhiều chiến lợi phẩm.

 

 (163) Ðiều giả dối, con chê con ghét,

luật pháp Ngài, những mến cùng yêu.

 

 (164) Con ca tụng Chúa mỗi ngày bảy lượt,

vì những quyết định công minh của Ngài.

 

 (165) Kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái,

chẳng còn lo gặp chướng ngại nào.

 

 (166) Lạy CHÚA, con đợi trông ơn Ngài cứu độ,

mệnh lệnh Ngài, con vẫn thực thi,

 

 (167) Thánh ý Chúa, trọn bề tuân giữ,

hồn mến yêu hâm mộ chẳng rời.

 

 (168) Ðường con Chúa rõ mười mươi,

huấn lệnh, thánh ý, con thời vâng theo.

 

 Tau

 

 (169) Tiếng con kêu, nguyện thấu tới Ngài, lạy CHÚA,

theo lời Ngài, xin mở trí cho con.

 

 (170) Ước chi lời cầu khẩn của con vọng tới Ngài,

xin giải thoát cho, như lời Ngài đã hứa.

 

 (171) Môi này nguyện trào dâng câu tán tụng,

vì Ngài dạy thánh chỉ cho con.

 

 (172) Lời hứa của Ngài, miệng con xin mừng hát,

mệnh lệnh của Ngài thảy đều công minh.

 

 (173) Cầu mong Ngài ra tay phù trợ,

vì con đã chọn theo huấn lệnh Ngài.

 

 (174) Lạy CHÚA, con khát mong ơn Ngài cứu độ,

luật Ngài làm con vui sướng thoả thuê.

 

 (175) Ước gì con sống để dâng Ngài lời ca tụng,

cầu mong quyết định của Ngài phù hộ con.

 

 (176) Con phiêu bạt tựa hồ chiên lạc lối,

xin kiếm tìm tôi tớ Ngài đây,

vì con chẳng quên mệnh lệnh của Ngài.

 

Thánh Vịnh 120 (119):

Ước mong được sống bình an

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Lúc ngặt nghèo, tôi kêu lên cùng CHÚA,

Chúa đã thương đáp lời.

 

 (2) Lạy CHÚA, xin Ngài cứu mạng con

khỏi môi miệng điêu ngoa, tấc lưỡi phỉnh phờ.

 

 (3) Lưỡi phỉnh phờ kia hỡi!

Chúa sẽ giáng gì xuống ngươi đây,

và còn thêm chi nữa?

 

 (4) Giáng toàn mũi tên nhọn của người chiến binh,

thêm những hòn than đước đỏ hồng!

 

 (5) Thật bất hạnh cho tôi

phải trú ngụ trong miền rợ Me-séc,

phải sống cùng dân du mục Kê-đa.

 

 (6) Tấm thân này trải bao năm tháng

 

 (7) sống cùng những kẻ ghét hoà bình.

Tôi vốn chuộng hoà bình.

Nhưng hễ tôi nói tới, thì phe họ lại muốn chiến tranh.

 

Thánh Vịnh 121 (120):

ÐỨC CHÚA là Ðấng bảo vệ Dân

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi,

ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao?

 

 (2) Ơn phù hộ tôi đến từ ÐỨC CHÚA

là Ðấng dựng nên cả đất trời.

 

 (3) Xin Ðấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước,

xin Người chớ ngủ quên.

 

 (4) Ðấng gìn giữ Ít-ra-en,

lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!

 

 (5) Chính CHÚA là Ðấng canh giữ bạn,

chính CHÚA là Ðấng vẫn chở che,

Người luôn luôn ở gần kề.

 

 (6) Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ,

đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi.

 

 (7) CHÚA giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh,

giữ gìn cho sinh mệnh an toàn.

 

 (8) CHÚA giữ gìn bạn lúc ra vào lui tới,

từ giờ đây cho đến mãi muôn đời.

 

Thánh Vịnh 122 (121):

Thành Thánh Giê-ru-sa-lem

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít.

 

Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi:

Ta cùng trẩy lên đền thánh CHÚA!”

Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi,

 

 (2) cửa nội thành, ta đã dừng chân.

 

 (3) Giê-ru-sa-lem khác nào đô thị

được xây nên một khối vẹn toàn.

 

 (4) Từng chi tộc, chi tộc của CHÚA,

trẩy hội lên đền ở nơi đây,

để danh CHÚA, họ cùng xưng tụng,

như lệnh đã truyền cho Ít-ra-en.

 

 (5) Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,

ngai vàng của vương triều Ða-vít.

 

 (6) Hãy nguyện chúc Giê-ru-sa-lem được thái bình,

rằng: “Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt,

 

 (7) tường trong luỹ ngoài hằng yên ổn,

lâu đài dinh thự mãi an ninh.”

 

 (8) Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,

tôi nói rằng: “Chúc thành đô an lạc.”

 

 (9) Nghĩ tới đền thánh CHÚA, Thiên Chúa chúng ta thờ,

tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô.

 

Thánh Vịnh 123 (122):

Dân Ít-ra-en bị áp bức

đặt hy vọng nơi Thiên Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa,

Ðấng đang ngự trên trời.

 

 (2) Quả thực như mắt của gia nhân hướng nhìn tay ông chủ,

như mắt của nữ tỳ hướng nhìn tay bà chủ,

mắt chúng ta cũng hướng nhìn lên CHÚA

là Thiên Chúa chúng ta,

tới khi Người xót thương chút phận.

 

 (3) Dủ lòng thương, lạy CHÚA, xin dủ lòng thương,

bởi chúng con bị khinh miệt ê chề;

 

 (4) hồn thật quá ê chề vì hứng chịu

lời nhạo báng của phường tự mãn,

giọng khinh người của bọn kiêu căng.

 

Thánh Vịnh 124 (123):

Ít-ra-en được phù hộ

khi kêu cầu danh ÐỨC CHÚA

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít.

 

Nếu mà CHÚA chẳng đỡ bênh ta,

nhà Ít-ra-en hãy nói lên rằng:

 

 (2) Nếu mà CHÚA chẳng đỡ bênh ta,

khi thiên hạ nhằm ta xông tới,

 

 (3) hẳn là họ đã nuốt sống ta rồi,

lúc đùng đùng giận ta như vậy;

 

 (4) hẳn là nước đã cuốn ta đi,

dòng thác lũ dâng lên ngập đầu ngập cổ;

 

 (5) hẳn là nước cuồn cuộn đã dâng lên, ngập cổ ngập đầu.

 

 (6) Xin chúc tụng ÐỨC CHÚA

đã không bỏ mặc ta làm mồi ngon cho nanh vuốt họ.

 

 (7) Hồn ta tựa cánh chim thoát lưới người đánh bẫy;

lưới giăng đã đứt rồi, thế là ta thoát nạn.

 

 (8) Ta được phù hộ là nhờ danh thánh CHÚA,

Ðấng đã dựng nên cả đất trời.

 

Thánh Vịnh 125 (124):

ÐỨC CHÚA che chở Dân Người

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Ai tin tưởng vào CHÚA, khác nào núi Xi-on

chẳng bao giờ lay chuyển, muôn thuở vẫn trường tồn.

 

 (2)Như núi đồi bao bọc thành Giê-ru-sa-lem,

CHÚA bao bọc dân Người bây giờ và mãi mãi.

 

 (3) Chúa sẽ không cho vương trượng ác nhân

đè nặng trên phần đất người lành,

kẻo người lành tra tay làm điều ác.

 

 (4) Lạy CHÚA, xin đối xử nhân hậu với người nhân hậu

và những ai lòng dạ thẳng ngay.

 

 (5) Nhưng kẻ ngả theo đường tà vạy,

xin CHÚA đuổi đi cùng bọn làm điều ác.

Nguyện chúc Ít-ra-en được thái bình.

 

Thánh Vịnh 126 (125):

Niềm vui và hy vọng đặt nơi Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Khi CHÚA dẫn tù nhân Xi-on trở về,

ta tưởng mình như giữa giấc mơ.

 

 (2) Vang vang ngoài miệng câu cười nói,

rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.

Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán:

Việc CHÚA làm cho họ, vĩ đại thay!”

 

 (3) Việc CHÚA làm cho ta, ôi vĩ đại!

ta thấy mình chan chứa một niềm vui.

 

 (4) Lạy CHÚA, xin dẫn tù nhân chúng con về,

như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam.

 

 (5) Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,

mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.

 

 (6) Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo;

lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng.

 

Thánh Vịnh 127 (126):

Vất vả uổng công

nếu không có Chúa giúp

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Sa-lô-môn.

 

Ví như CHÚA chẳng xây nhà,

thợ nề vất vả cũng là uổng công.

Thành kia mà CHÚA không phòng giữ,

uổng công người trấn thủ canh đêm.

 

 (2) Bạn có thức khuya hay dậy sớm,

khó nhọc làm ăn cũng hoài công.

Còn kẻ được Chúa thương dầu có ngủ,

Người vẫn ban cho đủ tiêu dùng.

 

 (3) Này con cái là hồng ân của CHÚA,

con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban.

 

 (4) Bầy con sinh hạ thời son trẻ

tựa nắm tên người dũng sĩ cầm tay.

 

 (5) Hạnh phúc thay người nào

đeo ống đầy loại tên như thế!

Họ sẽ không nhục nhã

khi phải đến cửa công

tranh tụng với địch thù.

 

Thánh Vịnh 128 (127):

Hạnh phúc thay kẻ kính sợ Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ CHÚA,

ăn ở theo đường lối của Người.

 

 (2) Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng,

bạn quả là lắm phúc nhiều may.

 

 (3) Hiền thê bạn trong cửa trong nhà

khác nào cây nho đầy hoa trái;

và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn,

xúm xít tại bàn ăn.

 

 (4) Ðó chính là phúc lộc CHÚA dành cho kẻ kính sợ Người.

 

 (5) Xin CHÚA từ Xi-on xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc.

Ước chi trong suốt cả cuộc đời

bạn được thấy Giê-ru-sa-lem phồn thịnh,

 

 (6) được sống lâu bên đàn con cháu.

Nguyện chúc Ít-ra-en vui hưởng thái bình.

 

Thánh Vịnh 129 (128):

Bị hà hiếp

dân Chúa vẫn một niềm tin tưởng

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Từ lúc tôi còn trẻ, chúng hà hiếp tôi nhiều,

Ít-ra-en hãy nói lên điều đó.

 

 (2) Từ lúc tôi còn trẻ, chúng hà hiếp tôi nhiều,

nhưng đã không hề thắng được tôi.

 

 (3) Trên lưng này, chúng cày ngang cày dọc,

đào xới lên những luống thật dài.

 

 (4) Nhưng mà CHÚA công minh

đã chặt đứt chão thừng quân gian ác.

 

 (5) Ước chi những kẻ thù Xi-on

đều nhục nhã tháo lui hết thảy,

 

 (6) và nên như cỏ mọc mái nhà

chưa ai nhổ mà đã héo khô!

 

 (7) Tay thợ gặt không lượm chi thứ đó,

cả người bó lúa cũng chẳng ôm về.

 

 (8) Khách qua đường không ai chào hỏi chúng:

CHÚA ban phúc lành cho anh em.

Chúng tôi chúc lành cho anh em nhân danh CHÚA.

 

Thánh Vịnh 130 (129):

Tiếng kêu từ vực thẳm

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy CHÚA,

 

 (2) muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.

Dám xin Ngài lắng tai để ý

Nghe lời con tha thiết nguyện cầu.

 

 (3) Ôi lạy CHÚA, nếu như Ngài chấp tội,

nào có ai đứng vững được chăng?

 

 (4) Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ

để chúng con biết kính sợ Ngài.

 

 (5) Mong đợi CHÚA, tôi hết lòng mong đợi,

cậy trông ở lời Người.

 

 (6) Hồn tôi trông chờ Chúa,

hơn lính canh mong đợi hừng đông.

Hơn lính canh mong đợi hừng đông,

 

 (7) trông cậy CHÚA đi, Ít-ra-en hỡi,

bởi CHÚA luôn từ ái một niềm,

ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.

 

 (8) Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en

cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn.

 

Thánh Vịnh 131 (130):

Như trẻ thơ

đặt hết niềm tin nơi Chúa

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít.

 

Lòng con chẳng dám tự cao,

mắt con chẳng dám tự hào, CHÚA ơi!

Ðường cao vọng, chẳng đời nào bước,

việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu;

 

 (2) hồn con, con vẫn trước sau

giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình.

Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,

trong con, hồn lặng lẽ an vui.

 

 (3) Cậy vào CHÚA, Ít-ra-en ơi,

từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.

 

Thánh Vịnh 132 (131):

Lời Chúa hứa cùng nhà Ða-vít

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Lạy CHÚA, xin Ngài nhớ đến vua Ða-vít

và mọi công lao vất vả của người:

 

 (2) chính người đã đoan thệ cùng ÐỨC CHÚA,

đã khấn hứa cùng Ðấng Toàn Năng của Gia-cóp rằng:

 

 (3) “Tôi quyết chẳng về nhà,

chẳng lên giường nằm nghỉ,

 

 (4) chẳng bao giờ chợp mắt khép mi,

 

 (5) khi chưa tìm được một nơi cho CHÚA ngự,

một ngôi đền cho Ðấng Toàn Năng của Gia-cóp.”

 

 (6) Này đây khi ở Ép-ra-tha,

chúng tôi đã nghe nói đến hòm bia,

chúng tôi tìm thấy hòm bia đó tại cánh đồng Gia-a.

 

 (7) Nào ta tiến vào nơi Chúa ngự,

phủ phục trước bệ rồng.

 

 (8) Lạy CHÚA, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa

ngự về chốn nghỉ ngơi.

 

 (9) Ước chi hàng tư tế của Ngài mặc lấy sự công chính,

kẻ hiếu trung với Ngài được cất tiếng hò reo.

 

 (10) Vì vua Ða-vít, trung thần của Chúa,

xin đừng xua đuổi đấng Chúa đã xức dầu phong vương.

 

 (11) ÐỨC CHÚA đã thề cùng vua Ða-vít

và sẽ không thất tín bao giờ,

thề rằng: “Chính con ruột của ngươi,

Ta sẽ đặt lên thừa kế ngai vàng.

 

 (12) Con cái ngươi mà giữ giao ước của Ta

và mệnh lệnh Ta truyền cho chúng.

thì con cái chúng đến muôn đời

cũng sẽ được lên kế vị ngươi!”

 

 (13) Vì ÐỨC CHÚA đã chọn Xi-on,

đã thích lấy chốn này làm nơi Người ngự.

 

 (14) Người phán: “Ðây là chốn Ta nghỉ ngơi đến muôn đời,

Ta sẽ ngự nơi này, vì Ta ưa thích.

 

 (15) Ta sẽ đổ xuống muôn hồng ân,

cho Xi-on được lương thực dồi dào,

và ban cho kẻ nghèo được no nê cơm bánh.

 

 (16) Ta sẽ cho hàng tư tế mặc lấy ơn cứu độ

và kẻ hiếu trung sẽ vui sướng reo hò.

 

 (17) “Nơi đây, Ta sẽ cho Ða-vít một dòng dõi hùng cường,

sẽ thắp cho người Ta đã xức dầu phong vương

một ngọn đèn luôn luôn cháy sáng.

 

 (18) Kẻ thù vua, Ta phủ đầy nhục nhã,

còn trên đầu vua, rực rỡ ánh triều thiên.”

 

Thánh Vịnh 133 (132):

Anh em thuận hoà thì tốt đẹp biết bao

(1) Ca khúc lên Ðền. Của vua Ða-vít

 

Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay,

anh em được sống vui vầy bên nhau,

 

 (2) như dầu quý đổ trên đầu

xuống râu xuống cổ áo chầu A-ha-ron,

 

 (3) như sương từ đỉnh Khéc-môn

toả trên đồi núi Xi-on lan tràn,

nơi đây ân huệ CHÚA ban,

chính là sự sống chứa chan muôn đời.

 

Thánh Vịnh 134 (133):

Kinh đêm trong Ðền Thánh

(1) Ca khúc lên Ðền.

 

Hỡi tất cả những người tôi tớ CHÚA

ứng trực suốt đêm trong thánh điện, nào chúc tụng CHÚA đi!

 

 (2) Hãy giơ tay hướng về cung thánh

mà dâng lên lời chúc tụng Người.

 

 (3) Cúi xin Ðấng tạo thành trời đất

xuống cho bạn muôn vàn phúc cả

từ núi thánh Xi-on.

 

Thánh Vịnh 135 (134):

Ca tụng Chúa đã thực hiện bao kỳ công

(1) Ha-lê-lui-a.

Nào ca tụng danh thánh CHÚA đi,

ca tụng Người, hỡi tôi tớ CHÚA

 

 (2) đang ứng trực trong cung điện Người,

tại khuôn viên đền Thiên Chúa chúng ta!

 

 (3) Ca tụng CHÚA đi, vì CHÚA nhân hậu,

đàn hát mừng danh thánh, vì danh thánh ngọt ngào.

 

 (4) Vì CHÚA đã chọn nhà Gia-cóp,

dành Ít-ra-en làm sản nghiệp riêng.

 

 (5) Tôi quá rõ: CHÚA thật là cao cả,

Chúa chúng ta vượt trên hết chư thần.

 

 (6) Muốn làm gì là CHÚA làm nên,

chốn trời cao cùng nơi đất thấp,

lòng biển cả và đáy vực sâu.

 

 (7) Từ cùng tận địa cầu xa tắp,

Chúa đẩy lên từng lớp mây trời,

làm cho chớp giật mưa rơi,

mở kho thả gió khắp nơi tung hoành.

 

 (8) Chúa sát hại các con đầu lòng Ai-cập,

của loài vật cũng như loài người.

 

 (9) Ngay tại đất ngươi, Ai-cập hỡi,

Người giáng xuống những điềm thiêng dấu lạ,

phạt Pha-ra-ô cùng với bầy tôi.

 

 (10) Người đập tan tành nhiều dân nước,

tiêu diệt bao lãnh chúa hùng cường:

 

 (11) Cả Xi-khôn, vua dân tộc E-mô-ri,

lẫn vua Ốc cầm quyền Ba-san nữa,

cùng mọi vương quốc miền Ca-na-an.

 

 (12) Chúa lấy đất họ, ban làm gia sản,

gia sản cho dân Người là Ít-ra-en.

 

 (13) Thánh danh Ngài, lạy CHÚA, sẽ trường tồn vạn kỷ,

trải qua muôn thế hệ, thiên hạ nhắc nhở Ngài.

 

 (14) CHÚA sẽ xét xử cho thần dân

sẽ dủ lòng thương hàng tôi tớ.

 

 (15) Tượng thần chư dân chỉ là vàng bạc,

chỉ do tay người thế tạo thành:

 

 (16) Có mắt có miệng, không nhìn không nói,

 

 (17) có hai tai, mà chẳng thể nghe chi,

không chút hơi thở nơi mồm nơi miệng.

 

 (18) Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần,

cũng giống như chúng vậy!

 

 (19) Nhà Ít-ra-en, nào chúc tụng CHÚA,

nhà A-ha-ron, chúc tụng CHÚA đi!

 

 (20) Nhà Lê-vi, nào chúc tụng CHÚA,

ai kính sợ CHÚA, chúc tụng CHÚA đi!

 

 (21) Từ Xi-on, xin chúc tụng CHÚA,

Ðấng ngự tại thành Giê-ru-sa-lem.

Ha-lê-lui-a.

 

Thánh Vịnh 136 (135):

Tạ ơn Thiên Chúa

(1) Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (2) Hãy tạ ơn Thần các thần,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (3) Hãy tạ ơn Chúa các chúa,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (4) Chỉ có Người làm nên những kỳ công vĩ đại,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (5) tầng trời cao, Chúa tạo dựng tài tình,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (6) trải mặt đất này trên làn nước bao la,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (7) Người làm ra những đèn trời to lớn

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (8) cho thái dương điều khiển ban ngày,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (9) đặt trăng sao hướng dẫn ban đêm,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (10) Người sát hại các con đầu lòng Ai-cập,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (11) dang cánh tay uy quyền mạnh mẽ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (12) dẫn Ít-ra-en ra khỏi xứ này,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (13) Nước Biển Ðỏ, Chúa phân làm hai khối,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (14) đưa Ít-ra-en lối giữa băng qua,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (15) xô xuống biển Pha-ra-ô cùng binh tướng,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (16) Chúa dẫn đưa dân Người qua sa mạc,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (17) sát hại bao lãnh chúa hùng cường,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (18) tiêu diệt những quân vương hiển hách,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (19) vua Xi-khôn của dân tộc E-mo-ri,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (20) và vua Oác miền Ba-san nữa,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (21) Người chiếm đất họ, ban làm gia sản,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (22) gia sản cho tôi tớ Người là Ít-ra-en,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (23) Chúa đã nhớ đến ta giữa cảnh nhục nhằn,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

 

 (24) gỡ ta thoát khỏi tay thù địch,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (25) Người ban lương thực cho tất cả chúng sinh,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

 (26) Hãy tạ ơn Thiên Chúa cửu trùng,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

 

Thánh Vịnh 137 (136):

Trên bờ sông Ba-by-lon

(1) Bờ sông Ba-by-lon, ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Xi-on;

 

 (2) trên những cành dương liễu, ta tạm gác cây đàn.

 

 (3) Bọn lính canh đòi ta hát xướng,

lũ cướp này mời gượng vui lên:

Hát đi, hát thử đi xem

Xi-on nhạc thánh điệu quen một bài!”

 

 (4) Bài ca kính CHÚA TRỜI, làm sao ta hát nổi

nơi đất khách quê người?

 

 (5) Giê-ru-sa-lem hỡi, lòng này nếu quên ngươi,

thì tay gãy đàn thành tê bại!

 

 (6) Lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm,

nếu ta không hoài niệm, không còn lấy Giê-ru-sa-lem

làm niềm vui tuyệt đỉnh của tâm hồn.

 

 (7) Lạy CHÚA, xin nhớ lại ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ,

để trừng phạt con cái Ê-đôm.

Ngày ấy chúng reo hò: “Phá nó đi, phá cho bình địa.”

 

 (8) Gái Ba-by-lon hỡi, đồ trời tru đất diệt!

Phúc thay người xử lại với mi, như mi đã xử với ta!

 

 (9) Phúc thay người bắt những con thơ của mi

mà đem đập vào đá.

 

Thánh Vịnh 138 (137):

Lời cảm tạ

(1) Của vua Ða-vít.

 

Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ,

Ngài đã nghe lời miệng con xin.

Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa,

 

 (2) hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ.

Xin cảm tạ danh Chúa,

vì Ngài vẫn thành tín yêu thương,

đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài

trên tất cả mọi sự.

 

 (3) Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại,

đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.

 

 (4) Lạy CHÚA, mọi đế vương dưới trần đều cảm tạ

khi nghe những lời miệng Ngài phán ra.

 

 (5) Họ sẽ ca ngợi đường lối CHÚA:

Vinh quang CHÚA vĩ đại dường bao!”

 

 (6) CHÚA tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn;

đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết.

 

 (7) Cho dù con gặp bước ngặt nghèo,

Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con.

Ðịch thù đang hằm hằm giận dữ,

Ngài ra tay chận đứng,

lấy tay uy quyền giải thoát con.

 

 (8) Việc CHÚA làm cho con, Ngài sẽ hoàn tất;

lạy CHÚA, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.

 

Thánh Vịnh 139 (138):

ÐỨC CHÚA ở khắp mọi nơi

biết hết mọi sự

(1) Phần nhạc trưởng. Của vua Ða-vít. Thánh vịnh.

 

Lạy CHÚA, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,

 

 (2) biết cả khi con đứng con ngồi.

Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,

 

 (3) đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,

mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

 

 (4) Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,

thì lạy CHÚA, Ngài đã am tường hết.

 

 (5) Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,

bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.

 

 (6) Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,

quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!

 

 (7) Ði mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,

lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?

 

 (8) Con có lên trời, Chúa đang ngự đó,

nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.

 

 (9) Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,

đến ở nơi chân trời góc biển phương tây,

 

 (10) tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,

cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.

 

 (11) Con tự nhủ: “Ước gì bóng tối bao phủ tôi

và ánh sáng quanh tôi thành đêm tối!”

 

 (12) Nhưng đối với Ngài, tối tăm chẳng có chi mù mịt,

và đêm đen sáng tỏ như ban ngày,

bóng tối và ánh sáng cũng như nhau.

 

 (13) Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo,

dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.

 

 (14) Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,

công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!

Hồn con đây biết rõ mười mươi.

 

 (15) Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì,

khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,

được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.

 

 (16) Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy;

mọi ngày đời được dành sẵn cho con

đều thấy ghi trong sổ sách Ngài,

trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.

 

 (17) Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao,

tính chung lại, ôi nhiều vô kể!

 

 (18) Ðếm sao nổi, vì nhiều hơn cát;

dù có đếm xong, con vẫn ở với Ngài.

 

 (19) Lạy Chúa, ước chi Ngài tiêu diệt kẻ gian tà,

ước gì bọn khát máu đi cho khuất mắt con!

 

 (20) Chúng nói về Ngài với chủ tâm phỉnh gạt,

nổi dậy chống Ngài nhưng uổng công.

 

 (21) Lạy CHÚA,

kẻ ghét Ngài, làm sao con không ghét?

Làm sao con không tởm kẻ đứng lên chống Ngài?

 

 (22) Con ghét chúng, ghét cay ghét đắng,

chúng trở thành thù địch của chính con.

 

 (23) Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,

xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ.

 

 (24) Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác

thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời.

 

Thánh Vịnh 140 (139):

ÐỨC CHÚA là Ðấng bảo vệ

người khốn khổ khó nghèo

(1) Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

 

(2) Lạy CHÚA, xin cứu con khỏi người gian ác,

giữ gìn con khỏi kẻ bạo tàn.

 

 (3) Lòng chúng bày chước độc mưu thâm,

cả ngày chỉ biết gây xung đột.

 

 (4) Chúng mài lưỡi nhọn như lưỡi rắn,

chứa đầy mồm nọc độc hổ mang.

 

 (5) Lạy CHÚA, xin bảo vệ con khỏi tay người tội lỗi,

giữ gìn con khỏi kẻ bạo tàn đang tìm kế làm con ngã quỵ.

 

 (6) Quân kiêu hãnh ngấm ngầm đánh bẫy,

chúng bủa lưới đặt dò, bên vệ đường gài bẫy hại con.

 

 (7) Con thưa cùng ÐỨC CHÚA: Chính Ngài là Thiên Chúa của con,

lạy CHÚA, xin lắng tai nghe tiếng con cầu khẩn.

 

 (8) Lạy CHÚA là Chúa Tể, là sức mạnh cứu con,

là mũ chiến đội đầu trong ngày con xuất trận.

 

 (9) Lạy CHÚA, xin đừng để ác nhân toại ý,

đừng để nó thực hiện mưu đồ.

 

 (10) Xin đừng để bọn vây hãm con ngẩng đầu lên được;

xin cho điều độc ác miệng chúng thốt ra

bao phủ lên người chúng!

 

 (11) Xin đổ than hồng xuống trên chúng như mưa,

xin làm cho chúng bị xô vào lửa đỏ,

sa xuống vực sâu, không tài nào trỗi dậy,

 

 (12) cho tên xấu miệng không còn chỗ đứng trên đời,

cho kẻ bạo tàn phải tai ương dồn dập!

 

 (13) Con biết rằng: CHÚA bênh người khốn khổ,

bảo vệ quyền lợi kẻ khó nghèo.

 

 (14) Vâng, người công chính sẽ xưng tụng danh Chúa,

kẻ ngay lành được ở trước Thánh Nhan.

 

Thánh Vịnh 141 (140):

Lời cầu

cho khỏi bị lôi kéo làm điều ác

(1) Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

 

Lạy CHÚA, con kêu lên cùng Chúa,

xin Ngài mau đến phù trợ con.

Xin lắng nghe lời con, khi con kêu lên Ngài.

 

 (2) Ước chi lời con nguyện

như hương trầm bay toả trước Thánh Nhan,

và tay con giơ lên

được chấp nhận như của lễ ban chiều.

 

 (3) Xin canh giữ miệng con, lạy CHÚA,

và trông chừng lưỡi con.

 

 (4) Xin đừng để lòng con nghiêng về sự dữ,

đừng để con làm điều ác với bọn gian tà.

Yến tiệc của chúng, con chẳng thèm ăn.

 

 (5) Người công chính cứ việc đánh con

và lấy tình thương mà sửa dạy,

nhưng dầu thơm kẻ dữ

con quyết chẳng cho xức trên đầu;

khi chúng làm điều ác, con vẫn luôn cầu nguyện.

 

 (6) Thủ lãnh chúng giờ đây bị xô vào tảng đá,

họ đã từng hả dạ nghe tiếng con than rằng:

 

 (7) “Xương chúng tôi nằm vung vãi trước miệng âm ty,

như thửa đất ngổn ngang vì kẻ đào người bới.”

 

 (8) Lạy CHÚA là Chúa Tể, con ngước mắt nhìn Ngài,

bên Ngài con ẩn náu, đừng để con thiệt mạng.

 

 (9) Xin giữ con khỏi sa lưới chúng giăng,

khỏi rơi vào cặm bẫy quân làm điều ác,

 

 (10) cho bọn ác nhân mắc bẫy chính chúng gài,

còn con đây thì được thoát khỏi.

 

Thánh Vịnh 142 (141):

ÐỨC CHÚA là nơi tôi trú ẩn

(1) Thi khúc. Của vua Ða-vít. Khi vua Ða-vít ở trong hang. Cầu nguyện.

 

(2) Tôi lớn tiếng kêu gào lên CHÚA,

tôi lớn tiếng cầu khẩn CHÚA thương,

 

 (3) lời than vãn, xin giãi bày lên Chúa,

nỗi ngặt nghèo, kể lể trước thiên nhan.

 

 (4) Lạy Chúa, khi hồn con tiêu hao mòn mỏi,

thì chính Chúa đã am tường mọi nẻo con đi.

Trên quãng đường con đang tiến bước,

người ta đã gài bẫy rình chờ.

 

 (5) Xin đưa mắt nhìn sang bên hữu:

chẳng một ai thèm nhận biết con;

không chỗ nào cho con lánh nạn,

có ai buồn nghĩ tới mạng con đâu!

 

 (6) Lạy CHÚA, con kêu gào lên CHÚA,

con thưa rằng: chính Ngài là nơi con trú ẩn,

là phần của riêng con

trong cõi đất dành cho kẻ sống.

 

 (7) Xin Ngài để ý nghe tiếng con kêu, vì con thật cùng khốn.

Xin cứu con khỏi những người bách hại,

bởi chúng mạnh hơn con.

 

 (8) Xin đưa con ra khỏi chốn ngục tù,

để con cảm tạ danh thánh Chúa.

Bao kẻ lành xúm lại mừng con,

vì con đã được Ngài thi ân giáng phúc.

 

Thánh Vịnh 143 (142):

Lời cầu xin lúc gặp hiểm nguy

(1) Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

 

Lạy CHÚA, xin nghe lời con khẩn nguyện,

lắng nghe con nài van, bởi Ngài thành tín,

đáp lại lời con, vì Ngài công minh.

 

 (2) xin chớ đòi tôi tớ ra xét xử, vì trước thánh nhan Ngài

chẳng có người nào là công chính.

 

 (3) Kẻ thù bách hại con, chà đạp con dưới đất,

đẩy vào chốn tối tăm, như những người đã chết từ bao thuở.

 

 (4) Hơi thở con chỉ còn thoi thóp,

nghe con tim giá lạnh trong mình.

 

 (5) Nhớ ngày xưa tháng cũ, con hoài niệm mọi công trình của Chúa

và gẫm suy việc tay Chúa làm nên.

 

 (6) Hai tay cầu Chúa giơ lên,

hồn con khát Chúa như miền đất khô.

 

 (7) Xin mau đáp lời con, lạy CHÚA, hơi thở con nay đã hầu tàn.

Xin đừng ẩn mặt đi, kẻo con hoá ra người thiên cổ.

 

 (8) Ngay từ buổi sớm mai,

xin cho con nghiệm thấy tình thương của Chúa,

vì con vẫn tin cậy nơi Ngài.

Xin chỉ dạy đường lối phải theo,

vì con nâng tâm hồn lên cùng Chúa.

 

 (9) Xin cứu con thoát khỏi địch thù,

lạy CHÚA, bên Ngài con trú ẩn.

 

 (10) Ðiều đẹp ý Ngài, xin dạy con thực hiện,

bởi Ngài là Thiên Chúa của con.

Xin thần khí tốt lành của Chúa

dẫn con đi trên miền đất phẳng phiu.

 

 (11) Lạy CHÚA, vì danh dự của Ngài, xin cho con được sống.

Bởi vì Ngài công chính, xin cứu con khỏi bước ngặt nghèo.

 

 (12) Vì Ngài vẫn một lòng thương mến,

xin tiêu diệt những kẻ thù con.

Xin làm cho thù địch con chết hết,

vì con là tôi tớ của Ngài.

 

Thánh Vịnh 144 (143):

Xin được chiến thắng

và hưởng cảnh thịnh vượng

(1) Của vua Ða-vít.

 

Chúc tụng CHÚA là núi đá cho tôi nương ẩn,

là Ðấng dạy tôi nên người thiện chiến,

luyện thành tay võ nghệ cao cường.

 

 (2) Chúa là đồng minh, là đồn luỹ che chở,

là thành trì bảo vệ, là Ðấng giải thoát tôi.

Chúa là khiên mộc cho tôi ẩn núp,

Người bắt chư dân quy phục quyền tôi.

 

 (3) Lạy CHÚA, con người có là chi, mà Chúa cần biết đến?

Phàm nhân đáng là gì, mà Chúa phải lưu tâm?

 

 (4) Ấy con người khác chi hơi thở,

vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu.

 

 (5) Lạy CHÚA, xin nghiêng trời ngự xuống,

chạm núi cao cho toả khói mịt mù;

 

 (6) xin tung chớp loà khiến địch quân tán loạn,

phóng tên bay làm chúng phải rã tan.

 

 (7) Từ cao thẳm xin đưa tay giải thoát,

cứu con lên khỏi đáy nước mênh mông,

khỏi thế lực nước ngoài.

 

 (8) Miệng chúng nói toàn điều xảo trá,

giơ tay thề chỉ biết thề gian!

 

 (9) Lạy Chúa Trời, xin dâng Chúa một bài ca mới,

thập huyền cầm, con gảy đôi cung.

 

 (10) Chính Ngài cho các vua thắng trận,

cứu mạng Ða-vít, kẻ trung thần,

khỏi lưỡi gươm ác nghiệt.

 

 (11) Xin cứu độ và giải thoát con khỏi thế lực nước ngoài;

miệng chúng nói toàn lời xảo trá,

giơ tay thề: chỉ biết thề gian.

 

 (12) Mong đàn con trai ta mạnh như cây vừa lớn

đang tuổi xuân mơn mởn;

mong bầy con gái ta đẹp như hình mỹ nữ

khắc trên cột đền đài.

 

 (13) Mong sao kho lẫm ta đầy ứ đủ mọi thứ hoa màu.

Số chiên cừu tăng lên ngàn vạn

tràn ngập khắp đồng quê.

 

 (14) Mong sao giống bò bê mập tròn béo tốt,

không chết chóc lạc đàn;

và mong sao đầu đường cuối phố

không vẳng tiếng khóc than.

 

 (15) Hạnh phúc thay dân nào được may mắn như vậy!

Hạnh phúc thay dân nào được CHÚA TRỜI làm Chúa!

 

Thánh Vịnh 145 (144):

Ca ngợi ÐỨC CHÚA là Vua

(1) Ngợi khen. Của vua Ða-vít.

 

A-lép

 

 Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,

con nguyện tán dương Chúa

và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

 

 Bết

 

 (2) Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa

và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

 

 Ghi-men

 

 (3) CHÚA thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng.

Người cao cả khôn dò khôn thấu.

 

 Ða-lét

 

 (4) Ðời nọ tới đời kia, thiên hạ đề cao sự nghiệp Chúa

và truyền tụng những chiến công của Ngài,

 

 Hê

 

 (5) tuyên bố Ngài oai phong vinh hiển,

kể lại rằng: Ngài thực hiện những kỳ công,

 

 Vau

 

 (6) bảo cho nhau: sức mạnh Ngài đáng sợ,

loan truyền rằng: Ngài cao cả lắm thay!

 

 Da-in

 

 (7) Nhắc nhở luôn: Ngài nhân ái vô cùng,

hoan hô Ngài công chính.

 

 Khết

 

 (8) CHÚA là Ðấng từ bi nhân hậu,

Người chậm giận và giàu tình thương.

 

 Tết

 

 (9) CHÚA nhân ái đối với mọi người,

tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.

 

 Giốt

 

 (10) Lạy CHÚA, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ,

kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài,

 

 Cáp

 

 (11) nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển,

xưng tụng Ngài là Ðấng quyền năng,

 

 La-mét

 

 (12) để nhân loại được tường những chiến công của Chúa,

và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.

 

 Mêm

 

 (13) Triều đại Ngài: thiên niên vĩnh cửu,

vương quyền Ngài vạn đại trường tồn.

 

 Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán,

đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.

 

 Xa-méc

 

 (14) Ai quỵ ngã, CHÚA đều nâng dậy,

kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên.

 

 A-in

 

 (15) Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa,

và chính Ngài đúng bữa cho ăn.

 

 Pê

 

 (16) Khi Ngài rộng mở tay ban,

là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê.

 

 Xa-đê

 

 (17) CHÚA công minh trong mọi đường lối Chúa,

đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.

 

 Cốp

 

 (18) CHÚA gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa,

mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.

 

 Rết

 

 (19) Kẻ kính sợ Người, Người cho toại nguyện,

nghe tiếng họ kêu than, và ban ơn giải cứu,

 

 Sin

 

 (20) CHÚA gìn giữ mọi kẻ mến yêu Người,

nhưng lại diệt trừ hết bọn ác nhân.

 

 Tau

 

 (21) Môi miệng tôi, hãy dâng lời ca ngợi CHÚA,

chúng sinh hết thảy, nào chúc tụng Thánh Danh

đến muôn thuở muôn đời!

 

Thánh Vịnh 146 (145):

Phúc thay người trông cậy Chúa

(1) Ha-lê-lui-a!

Ca tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!

 

 (2) Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng CHÚA,

sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời.

 

 (3) Ðừng tin tưởng nơi hàng quyền thế,

nơi người phàm chẳng cứu nổi ai.

 

 (4) Họ tắt hơi là trở về cát bụi,

dự định bao điều: ngày ấy tiêu tan.

 

 (5) Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ

và cậy trông CHÚA, Thiên Chúa họ thờ.

 

 (6) Người là Ðấng tạo thành trời đất với biển khơi

cùng muôn loài trong đó.

Người là Ðấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời,

 

 (7) xử công minh cho người bị áp bức,

ban lương thực cho kẻ đói ăn.

CHÚA giải phóng những ai tù tội,

 

 (8) CHÚA mở mắt cho kẻ mù loà.

CHÚA cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,

CHÚA yêu chuộng những người công chính.

 

 (9) CHÚA phù trợ những khách ngoại kiều,

Người nâng đỡ cô nhi quả phụ,

nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.

 

 (10) CHÚA nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở,

Xi-on hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.

 

Thánh Vịnh 147 (146):

Ca tụng ÐỨC CHÚA

là Ðấng Toàn Năng

(1) Ha-lê-lui-a!

Hãy ca tụng CHÚA đi!

Ðàn hát mừng Thiên Chúa chúng ta, thú vị dường nào!

Ðược tán tụng Người, thoả tình biết mấy!

 

 (2) CHÚA là Ðấng xây dựng lại Giê-ru-sa-lem,

quy tụ dân Ít-ra-en tản lạc về.

 

 (3) Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ,

những vết thương, băng bó cho lành.

 

 (4) Người ấn định con số các vì sao,

và đặt tên cho từng ngôi một.

 

 (5) Chúa chúng ta thật là cao cả,

uy lực vô biên, trí tuệ khôn lường!

 

 (6) Kẻ thấp hèn, CHÚA nâng đỡ dậy,

bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen.

 

 (7) Hãy dâng CHÚA bài ca cảm tạ,

gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta.

 

 (8) Chúa kéo mây bao phủ che kín cả bầu trời,

Người chuẩn bị cho mưa rơi xuống trên mặt đất.

Chúa khiến mọc cỏ xanh trên những miền đồi núi,

và các loài thảo mộc cho người thế hưởng dùng.

 

 (9) Chúa cho loài gia súc có đầy đủ thức ăn,

bầy quạ non kêu đói cũng luôn được no mồi.

 

 (10) Vó ngựa phi, Chúa không ưa chuộng,

chẳng thích gì chân kẻ chạy nhanh,

 

 (11) nhưng ưa chuộng những ai kính sợ CHÚA,

và trông cậy ở tình thương của Người.

 

 (12) Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh CHÚA!

Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi!

 

 (13) Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc,

con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.

 

 (14) Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình,

và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo.

 

 (15) Người tống đạt lệnh truyền xuống đất,

lời phán ra hoả tốc chạy đi.

 

 (16) Tuyết tựa lông chiên, Chúa trải dài,

sương giá như tro, Người rải rắc.

 

 (17) Làm mưa đá, Chúa tung từng miếng nhỏ,

chịu nổi làm sao giá lạnh của Người!

 

 (18) Chúa phán một lời là băng giải tuyết tan,

thổi gió lên nước liền tuôn chảy.

 

 (19) Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp,

chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en.

 

 (20) Chúa không đối xử với dân nào như vậy,

không cho họ biết những điều luật của Người.

Ha-lê-lui-a!

 

Thánh Vịnh 148 (147):

Kêu mời toàn thể tạo thành

chúc tụng ÐỨC CHÚA

(1) Ha-lê-lui-a!

Ca tụng CHÚA đi, tự cõi trời thăm thẳm,

ca tụng Người, trên chốn cao xanh.

 

 (2) Ca tụng Chúa đi, mọi sứ thần của Chúa,

ca tụng Người, hỡi toàn thể thiên binh!

 

 (3) Ca tụng Chúa đi, này vầng ô bóng nguyệt,

ca tụng Người, muôn tinh tú rạng soi.

 

 (4) Ca tụng Chúa đi, hỡi cửu trùng cao vút,

cả khối nước phía trên bầu trời.

 

 (5) Nào ca tụng thánh danh ÐỨC CHÚA,

vì Người ra lệnh, là hết thảy được tạo thành;

 

 (6) Người định nơi cho tất cả đến muôn đời muôn thuở,

ban truyền lề luật, luật đó chẳng hề qua.

 

 (7) Ca tụng CHÚA đi, từ mười phương đất,

này thuỷ quái dị hình, này tất cả vực sâu,

 

 (8) lửa hồng mưa đá, tuyết trắng mây mù,

ngọn cuồng phong, cấp thừa hành lời Chúa.

 

 (9) Núi với đồi trùng trùng điệp điệp,

cây ăn trái và đủ loại bá hương,

 

 (10) thú vật rừng hoang cùng là gia súc,

loài bò sát và mọi giống chim trời.

 

 (11) Bậc vua chúa cũng như hàng lê thứ,

khanh tướng công hầu, thủ lãnh trần gian,

 

 (12) Ai là nam thanh, ai là nữ tú,

khắp mặt bô lão, khắp mặt nhi đồng!

 

 (13) Nào ca tụng thánh danh Ðức Chúa,

vì thánh danh Người cao cả vô song,

và oai phong vượt quá đất trời.

 

 (14) Thế lực dân Người, Người đã nâng cao.

Ðó là bài ca tụng của những ai hiếu trung với Chúa,

của con cháu nhà Ít-ra-en, dân gần gũi với Người.

Ha-lê-lui-a!

 

Thánh Vịnh 149 (148):

Các tín hữu ca khúc khải hoàn

(1) Ha-lê-lui-a!

Hát lên mừng CHÚA một bài ca mới,

ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung!

 

 (2) Hỡi Ít-ra-en, nào hoan hỷ,

vì có Chúa là Ðấng tạo thành ngươi.

Con cái Xi-on, hãy nhảy mừng,

vì được Chúa làm Vua hiển trị.

 

 (3) Mừng Thánh Danh, nào dâng điệu vũ,

nhịp trống hoạ đàn theo khúc hoan ca.

 

 (4) Bởi vì CHÚA mến chuộng dân Người,

ban cho kẻ nghèo hèn được vẻ vang chiến thắng.

 

 (5) Kẻ hiếu trung hảy vui mừng rạng rỡ,

nào phủ phục mà cất tiếng reo hò,

 

 (6) miệng vang lời tán dương Thiên Chúa,

thanh gươm hai lưỡi, cầm chắc trong tay.

 

 (7) Ðể trả thù muôn nước và trừng trị chư dân,

 

 (8) để xiềng chân vua chúa và xích cổ vương hầu,

 

 (9) để thi hành án phạt Chúa đã viết từ xưa.

Ðó là niềm vinh dự cho mọi kẻ trung hiếu với Người.

Ha-lê-lui-a!

 

Thánh Vịnh 150 (149):

Ca tụng Chúa đi

(1) Ha-lê-lui-a!

Ca tụng Chúa đi, trong đền thánh Chúa,

ca tụng Người chốn cao thẳm uy linh.

 

 (2) Ca tụng Chúa vì công trình hùng vĩ,

ca tụng Người lẫm liệt uy phong.

 

 (3) Ca tụng Chúa đi, rập theo tiếng tù và,

ca tụng Người, họa tiếng cầm tiếng sắt.

 

 (4) Ca tụng Chúa, bằng vũ điệu trống đưa,

ca tụng Người, theo cung đàn nhịp sáo.

 

 (5) Ca tụng Chúa đi, với chũm chọe vang rền,

ca tụng Người cùng thanh la inh ỏi.

 

 (6) Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng CHÚA đi nào!

Ha-lê-lui-a!