KINH THÁNH CỰU ƯỚC

I. 1. Sách sáng thế

 

 

  SÁCH THÁNH VỊNH 51-100

(Nguồn copy : https://giotregiaoxutando.wordpress.com/)

Thánh Vịnh 51 (50):

Lạy Thiên Chúa, xin xót thương con

(1) Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

(2) Ngôn sứ Na-than đến gặp vua vì vua đã đến với bà Bát Se-va.

 

(3) Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,

mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.

 

(4) Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.

 

(5) Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.

 

(6) Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,

dám làm điều dữ trái mắt Ngài.

Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án,

liêm chính khi xét xử.

 

(7) Ngài thấy cho : lúc chào đời con đã vương lầm lỗi,

đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.

 

 

(8) Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật,

dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan.

 

(9) Xin dùng cành hương thảo

rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền;

xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết.

 

(10) Xin cho con được nghe

tiếng reo mừng hoan hỷ,

để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng.

 

(11) Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi

và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm.

 

(12) Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,

đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.

 

(13) Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,

đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.

 

(14) Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,

và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con;

 

(15) đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi,

ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài.

 

(16) Lạy Thiên Chúa con thờ là Thiên Chúa cứu độ,

xin tha chết cho con, con sẽ tung hô Ngài công chính.

 

(17) Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,

cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.

 

(18) Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm,

con có thượng tiến lễ toàn thiêu,

Ngài cũng không chấp nhận.

 

(19) Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát,

một tấm lòng tan nát dày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.

 

(20) Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Xi-on,

thành luỹ Giê-ru-sa-lem, xin Ngài xây dựng lại.

 

(21) Bấy giờ Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền,

lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế.

Bấy giờ thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.

 

Thánh Vịnh 52 (51):

Chống lại người miệng lưỡi hiểm độc

(1) Phần nhạc trưởng. Thi khúc. Của vua Ða-vít.

(2) Khi Ðô-ếch, người Ê-đôm, đến báo cho vua Sa-un rằng:

Ða-vít đến gặp ông A-khi-me-léc!”

 

(3) Hỡi kẻ gian hùng, khoe chi tội ác?

 

(4) Suốt ngày ngươi tính kế hại người!

Này hỡi tên chuyên nghề lừa đảo,

Lưỡi ngươi khác nào dao sắc bén.

 

(5) Ngươi ưa điều dữ hơn điều lành.

chuộng điều gian dối hơn sự thật.

 

(6) Ngươi thích nói toàn lời độc ác,

ôi miệng lưỡi điêu ngoa!

 

(7) Nên Chúa Trời sẽ tiêu diệt ngươi vĩnh viễn,

lượm ngươi đi, đem vất khỏi lều,

và bứng gốc khỏi nơi dương thế.

 

(8) Nhìn thấy vậy, chính nhân sợ hãi,

 

(9) nhạo cười rằng: nó đích thị là người

chẳng lấy Chúa làm nơi ẩn náu,

nhưng chỉ tin cậy vào đống tiền đống của

và khoe khoang mưu độc của mình.

 

(10) Còn phần tôi,

khác gì cây ô-liu xanh rờn trong nhà Thiên Chúa,

tôi tin cậy vào tình thương Thiên Chúa

mãi mãi đến muôn đời.

 

(11) Lạy Chúa, con nguyện tạ ơn Ngài luôn mãi, vì Ngài đã ra tay.

Trước mặt những người hiếu trung với Chúa,

con trông đợi danh Ngài, vì danh Ngài thiện hảo.

 

Thánh Vịnh 53 (52):

Người không tin vào Thiên Chúa (Tv 14)

(1) Phần nhạc trưởng. Cho cơn bệnh. Thi khúc. Của vua Ða-vít.

 

Kẻ ngu si tự nhủ : “Làm chi có Chúa Trời!”

 

(2) Chúng đã ra hư đốn, làm những điều ghê tởm,

chẳng có một ai làm điều thiện.

 

(3) Từ trời cao Thiên Chúa nhìn xuống loài người,

xem ai là kẻ có lương tri, biết kiếm tìm Thiên Chúa.

 

(4) Người người đã lìa xa chính lộ,

chỉ biết theo nhau làm chuyện suy đồi,

chẳng có một ai làm điều thiện,

dẫu một người cũng không.

 

(5) Những kẻ làm điều ác, kẻ sống trên xương máu đồng bào ta,

kẻ không cầu khẩn Thiên Chúa, há chẳng hiểu biết gì?

 

(6) Này chúng phải kinh hoàng sợ hãi,

khi chẳng có chi phải kinh hoàng,

vì Thiên Chúa làm tan xương nát thịt

những kẻ nào vây hãm dân Ta.

Chúng sẽ phải thẹn thùng, vì Thiên Chúa đã ruồng bỏ chúng.

 

(7) Từ Xi-on, ai sẽ đem lại ơn cứu độ cho Ít-ra-en?

Khi Chúa đổi vận mạng dân Người,

nhà Gia-cóp vui mừng biết mấy,

Dân Ít-ra-en hớn hở dường bao!

 

Thánh Vịnh 54 (53):

Xin ơn phù giúp

(1) Phần ca trưởng. Theo huyền cầm. Thi khúc. Của vua Ða-vít.

(2) Nhân vụ dân Díp đến gặp vua Sa-un và thưa:

Này, Ða-vít lại không ẩn núp nơi chúng tôi đó sao?”

 

(3) Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ,

lấy quyền năng Ngài mà xử cho con.

 

(4) Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu,

lắng tai nghe lời con thưa gửi.

 

(5) Phường kiêu ngạo nổi lên chống đối,

bọn hung tàn tìm hại mạng sống con,

chúng không kể gì đến Thiên Chúa.

 

(6) Nhưng này có Thiên Chúa phù trì,

thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ.

 

(7) Ước gì điều ác quật lại kẻ rình hại con,

vì Ngài thành tín, xin tiêu diệt chúng.

 

(8) Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế,

lạy CHÚA, con xưng tụng danh Ngài,

thật danh Ngài thiện hảo,

 

(9) vì Chúa giải thoát con khỏi mọi gian nguy,

và con đã dám nghênh bọn địch thù.

 

Thánh Vịnh 55 (54):

Than phiền vì địch thù hung dữ,

vì bạn bất trung

(1) Phần nhạc trưởng. Theo huyền cầm. Thi khúc. Của vua Ða-vít.

 

(2) Lạy Chúa Trời, xin lắng nghe lời con cầu nguyện,

con khẩn nài, xin đừng nỡ làm ngơ,

 

(3) xin để ý đến con và thương đáp lại.

Con kêu than, thốt ra lời lảm nhảm,

 

(4) lòng xao xuyến bởi địch thù thét gào, bởi ác nhân hà hiếp.

Trên thân này, chúng gieo tai giáng họa,

nộ khí hằm hằm, xông đến hại con.

 

(5) Nghe trong mình tim đau thắt lại,

bóng tử thần khủng khiếp chụp xuống con.

 

(6) Bao run sợ nhập cả vào người,

cơn kinh hãi tư bề phủ lấp.

 

(7) Con tự nhủ: “Phải chi được đôi cánh bồ câu

để bay bổng tìm nơi an nghỉ!

 

(8) Tôi sẽ lánh đi mãi tận chốn xa vời, vào ở trong sa mạc.

 

(9) Tôi sẽ vội tìm nơi ẩn trú, tránh khỏi cơn giông tố bão bùng.”

 

(10) Lạy Chúa, xin Ngài gây xáo trộn

và làm cho ngôn ngữ chúng bất đồng,

 

(11) vì trong thành, con chỉ thấy bạo hành và tranh tụng

rảo quanh trên tường luỹ suốt ngày đêm.

 

(12) Khắp nội thành, toàn bất công bạo tàn xảo kế,

nơi phố phường, chẳng hề vắng chước độc mưu thâm.

 

(13) Giả như tên địch thù phỉ báng, thì tôi cũng cam lòng,

hay kẻ ghét ghen lên mày lên mặt, tôi có thể lánh đi.

 

(14) Nhưng đây lại là bạn, người đồng vai đồng vế,

chỗ thân tình tâm phúc với tôi,

 

(15) đã cùng tôi chia ngọt sẻ bùi,

trong đền Thiên Chúa, giữa hội vui cùng sánh bước.

 

(16) Ước chi tử thần chụp ngay xuống chúng,

và chúng bị chôn sống dưới âm ty,

vì tội ác ở trong nhà chúng, ở ngay trong lòng chúng!

 

(17) Phần tôi, tôi kêu khấn Chúa Trời, CHÚA sẽ thương cứu độ.

 

(18) Sớm trưa chiều, tôi than sầu rên rỉ, Người sẽ nghe tiếng tôi.

 

(19) Người sẽ cứu tôi cho tính mạng an toàn

khỏi bọn người xông đánh, vì nhiều kẻ chống tôi.

 

(20) Thiên Chúa là Ðấng hiển trị tự muôn đời,

sẽ nghe tiếng tôi và hạ nhục chúng,

vì chúng không cải quá tự tân,

cũng chẳng hề kính sợ Chúa Trời,

 

(21) tên phản phúc ra tay hại người thân nghĩa,

lại lỗi ước quên thề;

 

(22) miệng nói năng ngọt xớt, lòng chỉ muốn chiến tranh,

lời trơn tru hơn mỡ, mà bén nhọn như gươm.

 

(23) Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay CHÚA,

Người sẽ đỡ đần cho,

chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ.

 

(24) Lạy Thiên Chúa, chính Ngài sẽ đẩy chúng vào hố diệt vong.

Phường khát máu và chuyên lường gạt

chẳng có sống được nửa đời đâu!

Phần con đây con tin tưởng nơi Ngài.

 

Thánh Vịnh 56 (55):

Tin tưởng vào Thiên Chúa

(1) Phần ca trưởng. Theo cung “áp bức của các vương công xa lạ”.

Của vua Ða-vít. Se sẽ. Khi quân Phi-li-tinh tra tay hại ông ở Gát.

 

(2) Xin thương xót con cùng, lạy Thiên Chúa,

vì người ta giày xéo thân con, và suốt ngày tấn công chèn ép.

 

(3) Ðịch thù con giày xéo suốt ngày, bè lũ tấn công nhiều vô kể.

Ôi lạy Ðấng Tối Cao,

 

(4) trong ngày con sợ hãi, con tin tưởng vào Ngài.

 

(5) Tôi tin tưởng vào Thiên Chúa và ca tụng lời Người.

Tôi tin tưởng vào Thiên Chúa và không còn sợ hãi.

Phàm nhân làm gì nổi được tôi?

 

(6) Lạy Chúa, suốt ngày chúng phá rối việc con làm

và chỉ nghĩ đến chuyện hại con.

 

(7) Chúng tụ tập, rình mò, theo dõi con từng bước

để tìm hại mạng con.

 

(8) Vì tội ác chúng làm, xin loại trừ chúng.

Lạy Thiên Chúa, trong cơn lôi đình, xin quật ngã chư dân.

 

(9) Bước đường con lận đận, chính Ngài đã đếm rồi.

Xin lấy vò mà đựng nước mắt con.

Nào Ngài đã chẳng ghi tất cả vào sổ sách?

 

(10) Ðịch thù phải tháo lui vào ngày tôi cầu cứu.

Tôi biết rằng : Thiên Chúa ở bên tôi.

 

(11) Tôi tin tưởng vào Thiên Chúa và ca tụng lời Người;

tôi ca tụng lời CHÚA.

 

(12) Tôi tin tưởng vào Thiên Chúa và không còn sợ hãi;

phàm nhân làm gì nổi được tôi?

 

(13) Lạy Thiên Chúa, lời khấn hứa cùng Ngài, con xin giữ,

lễ tạ ơn, nguyện sẽ dâng Ngài,

 

(14) vì Ngài cứu mạng con khỏi chết,

lại ngăn ngừa kẻo phải hụt chân,

để con bước đi trước mặt Ngài trong ánh sáng dành cho kẻ sống.

 

Thánh Vịnh 57 (56):

Ẩn náu bên Thiên Chúa

(1) Phần nhạc trưởng. “Xin đừng phá đổ”.

Của vua Ða-vít. Se sẽ. Khi ông chạy vào hang, trốn vua Sa-un.

 

(2) Xin thương xót con cùng, lạy Thiên Chúa,

xin Ngài thương xót con,

này con đến ẩn náu bên Ngài;

dưới bóng Ngài, này con ẩn náu,

tới khi nào hết tai họa khổ đau.

 

(3) Tôi kêu cầu Chúa Tối Cao,

Chúa ban ân phúc dồi dào cho tôi.

 

(4) Tự trời xanh, mong Người đưa tay giải thoát,

hạ nhục kẻ thù tấn công tôi.

Xin Chúa Trời gởi xuống

tình thương và lòng thành tín của Người.

 

(5) Tôi phải nằm giữa bầy sư tử, loài thú ăn thịt người;

nanh vuốt chúng là đầu tên mũi giáo,

lưỡi thì sắc bén tựa gươm đao.

 

(6) Lạy Thiên Chúa, xin biểu thị uy phong khắp cõi trời

và chiếu toả vinh quang đầy mặt đất.

 

(7) Dưới chân con, chúng đã giăng lưới sẵn,

cho con phải mắc vào.

Trước mặt con, chúng đào hầm đào hố,

chính chúng lại sa chân.

 

(8) Con an lòng, lạy Thiên Chúa, con vững dạ an lòng,

 

(9) này con xin đàn hát xướng ca.

Thức dậy đi, hồn tôi hỡi,

thức dậy đi, hỡi đàn sắt đàn cầm,

tôi còn đánh thức cả bình minh.

 

(10) Lạy Thiên Chúa, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ,

giữa lòng muôn nước, con đàn hát xướng ca.

 

(11) Vì tình thương của Ngài cao ngất trời xanh,

và lòng thành tín vượt ngàn mây thẳm.

 

(12) Lạy Thiên Chúa, xin biểu thị uy phong khắp cõi trời

và chiếu toả vinh quang đầy mặt đất.

 

Thánh Vịnh 58 (57):

Có thực các người phán quyết công minh?

(1) Phần nhạc trưởng. “Xin đừng phá đổ”. Của vua Ða-vít. Se sẽ.

 

(2) Hỡi những kẻ quyền thế,

có thực các người phán quyết công minh,

xét xử người ta theo đường chính trực?

 

(3) Các người chủ tâm làm điều bất chính,

ra tay bạo hành trên đất này.

 

(4) Bọn ác nhân lạc lối từ khi lọt lòng mẹ,

phường gian dối lầm đường ngay thuở mới sinh ra.

 

(5) Nọc của chúng khác nào nọc rắn,

chúng như hổ mang điếc bịt tai

 

(6) chẳng thèm nghe tiếng người dụ rắn,

người thạo nghề thôi miên.

 

(7) Lạy Thiên Chúa, xin đánh chúng bể miệng gãy răng,

lạy CHÚA, xin bẻ nanh của bầy sư tử.

 

(8) Xin cho chúng biến đi như nước chảy

và héo tàn như cỏ đạp dưới chân,

 

(9) như ốc sên vừa bò vừa rữa

như trẻ sinh non không thấy ánh mặt trời.

 

(10) Ước gì lửa giận của Chúa cuốn chúng đi

nhanh hơn lửa gai bén tới nồi.

 

(11) Người công chính sẽ vui mừng thấy Chúa trả oán,

họ sẽ rửa chân trong máu ác nhân.

 

(12) Thiên hạ sẽ nói rằng:

Quả thật có phần thưởng dành cho người công chính,

quả thật có Thiên Chúa xét xử trên địa cầu.”

 

Thánh Vịnh 59 (58):

Xin ơn đối phó với kẻ thù

(1) Phần nhạc trưởng. “Xin đừng phá đổ”. Của vua Ða-vít.

Se sẽ. Khi vua Sa-un sai người canh giữ nhà ông để hãm hại ông.

 

(2) Lạy Thiên Chúa của con,

xin cứu con khỏi lũ địch thù,

bênh đỡ con chống lại kẻ tấn công,

 

(3) cứu vớt con khỏi phường gian ác,

giải thoát con khỏi bọn giết người.

 

(4) Kìa mạng con, chúng rình hãm hại,

lũ cường quyền xúm lại chống con.

 

(5) Lạy CHÚA, con đâu có tội có lỗi gì, có làm chi lầm lỡ,

mà chúng cũng xông vào dàn trận.

 

(6) Lạy CHÚA là Chúa Tể càn khôn,

là Thiên Chúa nhà Ít-ra-en,

xin đứng lên trừng trị chư dân,

đừng thương hại một kẻ nào dã tâm phản phúc.

 

(7) Chiều đến, chúng trở lại

tru lên như chó và chạy rông khắp thành.

 

(8) Này chúng ba hoa sùi bọt mép, lưỡi kiếm ở đầu môi.

Chúng nói : “Nào ai nghe thấy được?”

 

(9) Nhưng phần Ngài, lạy CHÚA, Ngài chê cười chúng,

Ngài nhạo báng chư dân.

 

(10) Lạy Thiên Chúa là sức mạnh của con,

con ngước mắt nhìn Ngài,

bởi Ngài là thành luỹ bảo vệ con.

 

(11) Thiên Chúa, Ðấng đầy lòng yêu mến, sẽ đến phù hộ tôi;

Thiên Chúa sẽ cho tôi nghênh bọn địch thù.

 

(12) Xin Chúa đừng giết chúng,

kẻo dân của con lãng quên đi.

Lạy Chúa là khiên mộc của chúng con,

xin dùng sức mạnh bắt chúng phải lang thang,

và xin quật ngã chúng.

 

(13) Mở miệng ra là chúng nói điều tội lỗi,

ước gì chúng bị hại vì thói kiêu căng của mình,

vì lộng ngôn phạm thượng, vì ăn gian nói dối.

 

(14) Trong cơn thịnh nộ, xin tiêu diệt chúng đi,

xin tiêu diệt, để chúng không còn nữa,

cho thiên hạ biết rằng:

Thiên Chúa thống trị nhà Gia-cóp, và khắp cõi địa cầu.

 

(15) Chiều đến, chúng trở lại,

tru lên như chó và chạy rông khắp thành.

 

(16) Chúng lang thang tìm kiếm của ăn,

chúng gầm gừ khi không no bụng.

 

(17) Lạy Chúa, sức mạnh của Ngài, con xin mừng hát,

tình thương Ngài, sớm sớm nguyện tung hô,

bởi con được Chúa nên đồn nên luỹ,

chốn con nương mình trong buổi gian truân.

 

(18) Lạy Chúa là sức mạnh của con, xin đàn hát mừng Ngài,

bởi Ngài là thành luỹ bảo vệ con,

lạy Thiên Chúa, Ðấng đầy lòng yêu mến.

 

Thánh Vịnh 60 (59):

Lời cầu nguyện sau khi bại trận

(1) Phần nhạc trưởng. Theo điệu “Bông huệ chứng tri”.

Se sẽ. Của vua Ða-vít. Ðể dạy.

(2) Khi ông đánh dân A-ram Na-ha-ra-gim và A-ram Xô-va,

và khi ông Giô-áp trở lại đánh thắng Ê-đôm trong thung lũng Muối:

mười hai ngàn người

 

(3) Lạy Thiên Chúa, Ngài đã ruồng bỏ chúng con

và làm cho tan nát;

Ngài đã từng nổi cơn thịnh nộ,

nhưng xin trở lại với chúng con!

 

(4) Chúa đã làm cho đất chuyển rung và nứt nẻ,

xin hàn gắn lại cho khỏi lung lay.

 

(5) Dân Ngài, Ngài bắt nếm chua cay,

ép chúng con cạn chén nồng choáng váng.

 

(6) Ngài phất cờ hiệu cho kẻ kính sợ Ngài,

để họ thoát mũi tên xạ thủ.

 

(7) Xin ra tay cứu độ, và đáp lời chúng con,

để những kẻ Ngài yêu thương được ơn giải thoát.

 

(8) Trong thánh điện, Chúa Trời tuyên phán:

Khấp khởi mừng, Ta chia cắt Si-khem,

Ta đo đạc cả đồng bằng Xúc-cốt.

 

(9) Ga-la-át về Ta, Mơ-na-se cũng về Ta,

Ta lấy Ép-ra-im làm mũ chiến đội đầu,

lấy Giu-đa làm cây gậy chỉ huy.

 

(10) Mô-áp là chậu Ta tắm rửa,

Ê-đôm là chỗ Ta liệng giày,

đánh bại Phi-li-tinh, Ta reo mừng thắng trận.”

 

(11) Lạy Thiên Chúa, ai sẽ đưa con vào thành kiên cố,

ai sẽ dắt con đến tận Ê-đôm?

 

(12) Há chẳng phải chính Ngài,

Ðấng đã từng ruồng bỏ chúng con,

chẳng còn dẫn ba quân xuất trận?

 

(13) Xin Ngài thương cứu viện cho chúng con thoát khỏi quân thù,

chứ người phàm giúp đỡ chỉ bằng không.

 

(14) Có Thiên Chúa, ta sẽ trổ tài oanh liệt,

chính Người chà đạp kẻ thù ta.

 

Thánh Vịnh 61 (60):

Người lưu vong cầu nguyện

(1) Phần nhạc trưởng. Theo huyền cầm. Của vua Ða-vít.

 

(2) Lạy Chúa Trời, xin nghe tiếng kêu van,

và lưu ý đến lời con thỉnh nguyện.

 

(3) Từ cùng cõi địa cầu, con kêu lên Chúa,

tâm thần này đang mòn mỏi rã rời.

Trên tảng đá kia cao vòi vọi, xin Ngài dẫn con lên.

 

(4) Vì Chúa là nơi con vào trú ẩn,

luỹ sắt thành đồng chống lại địch quân.

 

(5) Ước gì con được ở mãi trong lều thánh,

được chở che dưới cánh tay Ngài.

 

(6) Vâng chính Ngài, lạy Thiên Chúa,

đã nghe lời khấn nguyện của con,

lại cho con thừa hưởng

cơ nghiệp dành cho ai kính sợ danh Ngài.

 

(7) Lạy Thiên Chúa, xin gia tăng tuổi thọ

cho đức vua sống mãi ngàn năm,

 

(8) hiển trị muôn đời trước Nhan Thánh,

được ân tình tín nghĩa chở che.

 

(9) Bấy giờ con mãi đàn ca mừng Danh Thánh,

ngày lại ngày, xin giữ trọn lời nguyền.

 

Thánh Vịnh 62 (61):

Tin tưởng vào Thiên Chúa

(1) Phần nhạc trưởng. Giơ-đu-thun. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

 

(2) Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,

hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.

Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến,

 

(3) duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,

là thành luỹ chở che : tôi chẳng hề nao núng.

 

(4) Tới bao giờ các ngươi còn xúm lại

để xông vào quật ngã một người?

Hắn đã như bức tường xiêu đổ,

như hàng rào đến lúc ngả nghiêng.

 

(5) Con người ấy, chúng chỉ mưu hạ bệ,

chúng thoả lòng vì đã nói dối nói gian.

Miệng thì chúc phúc cầu an,

mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời.

 

(6) Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,

này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn.

Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến,

 

(7) duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,

là thành luỹ chở che : tôi chẳng hề nao núng.

 

(8) Nhờ Thiên Chúa, tôi được cứu độ và vinh quang,

Người là núi đá vững vàng,

ở bên Thiên Chúa tôi hằng ẩn thân.

 

(9) Hỡi dân Ta, hãy tin tưởng vào Người luôn mãi,

trước mặt Người, hãy thổ lộ tâm can:

Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu.

 

(10) Kẻ thường dân âu chỉ là hơi thở,

người quyền quý đều ví tựa ảo huyền,

đứng cả lên cân cũng chẳng tày mây khói.

 

(11) Ðừng tin tưởng ở trò áp bức nữa,

chớ hoài công cậy ngón bóc lột người!

Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở,

lòng chẳng nên gắn bó làm chi.

 

(12) Lạy Thiên Chúa, một lần Ngài phán dạy,

con nghe được hai điều,

rằng : Ngài nắm quyền uy

 

(13) và giàu lòng nhân hậu;

rằng : Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người

 

Thánh Vịnh 63 (62):

Tâm hồn khát khao Thiên Chúa

(1) Thánh vịnh. Của vua Ða-vít. Khi ông ở trong sa mạc Giu-đa.

 

(2) Lạy Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa con thờ,

ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.

Linh hồn con đã khát khao Ngài,

tấm thân này mòn mỏi đợi trông,

như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.

 

(3) Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,

để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.

 

(4) Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,

miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương.

 

(5) Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,

và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.

 

(6) Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,

môi miệng con rộn rã khúc hoan ca.

 

(7) Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ,

suốt năm canh thầm thĩ với Ngài.

 

(8) Quả thật Ngài đã thương trợ giúp,

nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui.

 

(9) Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó,

giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì.

 

(10) Còn những kẻ tìm hại mạng con,

ước gì chúng phải xuống vực sâu lòng đất,

 

(11) bị gươm giáo phanh thây, làm mồi cho muông sói.

 

(12) Ðức Vua sẽ vui mừng trong Thiên Chúa.

Ai lấy danh Chúa mà thề sẽ được hiên ngang;

còn người nói dối phải câm miệng.

 

Thánh Vịnh 64 (63):

Cầu xin Thiên Chúa

giúp đối phó với kẻ thù

(1) Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.

 

(2) Lạy Chúa Trời, xin nghe tiếng thở than,

gìn giữ mạng con khỏi quân thù khủng bố,

 

(3) Này kẻ ác mưu đồ, chúng ồn ào tác hại, xin giấu kỹ con đi.

 

(4) Chúng mài lưỡi như mài gươm sắc,

lời thâm độc tựa tên lắp vào cung,

 

(5) bắn trộm người vô tội,

bắn thình lình mà chẳng sợ chi.

 

(6) Chúng quyết tâm làm điều độc dữ,

bàn luận xem gài bẫy thế nào,

rồi nhỏ to: “Ai mà thấy được?”

 

(7) Bày kế lập mưu làm điều ác,

chúng hoàn thành kế hoạch đã mưu toan.

Thâm hiểm biết bao lòng dạ người đời!

 

(8) Nhưng Thiên Chúa lại bắn tên vào chúng,

thình lình chúng đã bị trúng thương.

 

(9) Tấc lưỡi mình hại mình là thế!

Thiên hạ xem, ai cũng lắc đầu.

 

(10) Hết thảy mọi người đều kính sợ,

họ sẽ loan truyền hành động của Thiên Chúa

và hiểu ngay những việc Người làm.

 

(11) Người công chính sẽ vui mừng trong CHÚA

và ẩn náu bên Người.

Mọi tấm lòng chính trực đều lấy thế làm vinh.

 

Thánh Vịnh 65 (64):

Lời tạ ơn long trọng

(1) Phần nhạc trưởng. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít. Thánh ca.

 

(2) Lạy Thiên Chúa,

ca tụng Ngài ở Xi-on, thật là chính đáng,

điều khấn hứa cùng Ngài, phải lo giữ trọn.

 

(3) Chúa là Ðấng nghe lời cầu khẩn,

mọi phàm nhân sẽ đến với Ngài,

 

(4) thân mang đầy tội lỗi;

bao tội ác đè bẹp chúng con,

nhưng phần Chúa, Chúa tha thứ cả.

 

(5) Phúc thay kẻ được Ngài tuyển chọn

và cho ở tại khuôn viên đền Ngài.

Ân huệ nhà Chúa, chúng con tận hưởng,

lộc thánh đền Ngài, lại được đầy no.

 

(6) Ngài công minh đáp lại lời chúng con

bằng những việc lạ lùng kinh hãi,

lạy Chúa Trời, Ðấng cứu độ chúng con,

Ngài là niềm hy vọng của toàn cõi đất

và hải đảo xa vời.

 

(7) Ngài dùng sức mạnh đặt núi non vững chãi,

lấy uy dũng mà thắt ngang lưng.

 

(8) Biển cả gầm vang, sóng cồn gào thét,

người muôn nước náo động xôn xao:

Ngài khiến tất cả phải im hơi lặng tiếng.

 

(9) Dân cư trên khắp cùng trái đất

thấy kỳ công của Ngài, phải khiếp oai.

Ngài làm vang tiếng reo cười,

cửa đông sáng sớm, cửa đoài chiều hôm.

 

(10) Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc,

cho ngập tràn phú túc giàu sang,

suối trời trữ nước mênh mang,

dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông.

 

(11) Tưới từng luống, san từng mô đất,

khiến dầm mưa cho hạt nảy mầm,

 

(12) bốn mùa Chúa đổ hồng ân,

Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi.

 

(13) Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ,

cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh,

 

(14) chiên cừu phủ trắng đồng xanh,

lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào,

câu hò tiếng hát trổi cao.

 

Thánh Vịnh 66 (65):

Ca khúc tạ ơn

(1) Phần nhạc trưởng. Thánh ca. Thánh vịnh.

 

Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa,

 

(2) đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời,

nào dâng lời ca tụng tôn vinh!

 

(3) Hãy thưa cùng Thiên Chúa:

Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài!

Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm.

 

(4) Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ,

và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.”

 

(5) Ðến mà xem công trình của Thiên Chúa:

hành động của Người đối với phàm nhân

thật đáng kinh đáng sợ!

 

(6) Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền,

và dân Người đi bộ qua sông;

việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ.

 

(7) Chúa uy dũng hiển trị muôn đời;

đôi mắt Người theo dõi chư dân,

quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!

 

(8) Nào chúc tụng Chúa Trời chúng ta, muôn dân hỡi,

trổi vang lên lời tán dương Người,

 

(9) Người là Ðấng bảo toàn mạng sống

và giữ gìn ta khỏi lỡ bước sa chân.

 

(10) Vâng lạy Chúa, Ngài đã từng thử thách,

luyện chúng con như luyện bạc trong lò,

 

(11) đã để cho rơi vào cạm bẫy,

gánh nặng nề chồng chất cả trên vai,

 

(12) mặc thiên hạ cỡi lên đầu lên cổ.

Cơn nước lửa, chúng con từng gặp bao lần,

nhưng Ngài đã cứu thoát, đem ra chỗ thảnh thơi.

 

(13) Mang lễ vật toàn thiêu, bước vào nhà Chúa,

con xin giữ trọn điều khấn hứa cùng Ngài,

 

(14) lời khấn đó, môi này đã nguyện,

miệng thốt ra lúc gặp gian nguy.

 

(15) Con tiến dâng Ngài bò chiên dê béo tốt,

làm lễ toàn thiêu nghi ngút bay lên.

 

(16) Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời,

đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.

 

(17) Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa,

tấc lưỡi tán dương, tôi đã sẵn sàng.

 

(18) Ðiều gian ác, nếu lòng này ấp ủ,

chắc hẳn là Chúa chẳng nghe đâu.

 

(19) Thế mà Thiên Chúa đã nghe rồi, để tâm đến lời tôi cầu nguyện.

 

(20) Xin chúc tụng Thiên Chúa

đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng,

lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình.

 

Thánh Vịnh 67 (66):

Muôn dân nước

hãy cảm tạ Thiên Chúa

(1) Phần nhạc trưởng. Theo huyền cầm. Thánh vịnh. Thánh ca.

 

(2) Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc,

xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con,

 

(3) cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa,

và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.

 

(4) Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa,

chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài!

 

(5) Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ,

vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh,

Người cai trị muôn nước theo đường chính trực

và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này.

 

(6) Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa,

chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài.

 

(7) Ðất đã sinh ra mùa màng hoa trái:

Chúa Trời, Chúa chúng ta, đã ban phúc lộc.

 

(8) Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta!

 

Thánh Vịnh 68 (67):

Thiên Chúa chiến thắng khải hoàn

(1) Phần nhạc trưởng. Của vua Ða-vít. Thánh vịnh. Thánh ca.

 

(2) Thiên Chúa đứng lên, địch thù Người tán loạn,

kẻ ghét Người phải chạy trốn Thánh Nhan.

 

(3) Như làn khói cuộn, chúng bị Chúa cuốn đi;

như sáp chảy tan khi vừa gặp lửa,

kẻ ác cũng tiêu vong khi giáp mặt Chúa Trời.

 

(4) Còn những người công chính

múa nhảy mừng vui trước mặt Chúa Trời,

niềm hoan lạc trào dâng.

 

(5) Hãy hát mừng Thiên Chúa, đàn ca kính danh Người,

hãy dọn đường cho Ðấng ngự giá đằng vân.

Danh Người là ÐỨC CHÚA;

trước Thánh Nhan, hãy vui mừng hớn hở.

 

(6) Cha nuôi dưỡng cô nhi, Ðấng đỡ bênh quả phụ,

chính là Thiên Chúa ngự trong thánh điện Người.

 

(7) Kẻ cô thân, Thiên Chúa cho nhà cửa,

hạng tù đày, Người trả lại tự do hạnh phúc,

còn quân phản nghịch phải ở nơi khô cằn.

 

(8) Lạy Thiên Chúa,

thuở Ngài lãnh đạo đoàn dân riêng xuất trận,

thuở Ngài tiến bước trong sa mạc hoang vu,

 

(9) đất đã chuyển rung, trời cũng tan chảy,

trước mặt Thiên Chúa, Ðấng xuất hiện tại núi Xi-nai,

trước mặt Thiên Chúa là Thiên Chúa của Ít-ra-en.

 

(10) Lạy Thiên Chúa, Ngài đổ mưa ân hậu,

gia nghiệp Ngài tiêu hao mòn mỏi, Ngài đã bổ sức cho.

 

(11) Lạy Thiên Chúa, đàn chiên của Ngài đến ở nơi đâu,

Ngài cũng luôn nâng đỡ,

bởi vì Ngài nhân hậu đối với kẻ khó nghèo.

 

(12) Ðức Chúa vừa tuyên sấm,

cả một đoàn quân phụ nữ đã loan đi:

 

(13) Vua quan đào tẩu, binh lính chạy dài!

Phụ nữ ở nhà đem chia chiến lợi phẩm.

 

(14) Sao các ngươi nằm yên sau tường kín,

khi cánh bồ câu dát bạc long lanh,

cả bộ lông mườn mượt ánh vàng,

 

(15) khi Ðấng Toàn Năng dẹp chư vương tại đó,

khi tuyết rơi đầy trên đỉnh Xan-môn?

 

(16) Hỡi Ba-san, non thần núi thánh,

hỡi Ba-san, rặng núi ngất cao.

 

(17) Hỡi rặng núi ngất cao, cớ sao mi lườm nguýt

ngọn núi được Chúa Trời dành làm nơi ngự trị?

Quả thật ở nơi đó CHÚA sẽ ngự muôn đời.

 

(18) Xa mã Thiên Chúa, ngàn muôn ức triệu,

tự Xi-nai, Chúa tiến vào đền thánh.

 

(19) Ngài đã lên cao, dẫn theo một đám tù,

nhận đám người này làm lễ vật triều cống;

cả những quân phản nghịch

cũng phải ở bên cạnh CHÚA TRỜI.

 

(20) Ngày lại ngày, xin chúc tụng Chúa,

Thiên Chúa cứu độ ta, Người đỡ nâng ta.

 

(21) Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa cứu độ,

lối thoát khỏi tử thần thuộc quyền của ÐỨC CHÚA.

 

(22) Còn những quân thù địch, Thiên Chúa đập bể đầu;

bọn theo đường gian ác, Người đánh cho vỡ sọ.

 

(23) Chúa đã phán: “Từ Ba-san Ta dẫn đưa về,

dẫn đưa về từ đáy biển thẳm sâu,

 

(24) để cho ngươi dầm chân trong máu,

bầy chó của ngươi đưa lưỡi liếm thây thù.”

 

(25) Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con,

thiên hạ đã nhìn thấy đám rước Ngài,

đám rước Ngài vào trong thánh điện.

 

(26) Ca đoàn mở lối, ban nhạc theo sau,

giữa là thanh nữ khua trống nhịp nhàng.

 

(27) Hãy họp nhau mà chúc tụng Thiên Chúa,

chúc tụng CHÚA, hỡi dòng dõi Ít-ra-en.

 

(28) Kìa Ben-gia-min phận út dẫn đầu,

chức sắc Giu-đa với đoàn quân rộn rã,

chức sắc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li.

 

(29) Lạy Thiên Chúa, xin biểu dương quyền lực của Ngài,

việc đã làm cho chúng con, xin Ngài củng cố.

 

(30) Từ thánh điện Ngài ở Giê-ru-sa-lem,

là nơi vua chúa về triều cống,

 

(31) xin Ngài hăm dọa Con Thú bãi lau

hăm dọa đàn bò mộng, với lũ bò con là dân của chúng,

chúng phải đem bạc nén đến quỳ dâng;

còn những dân hiếu chiến, xin Ngài đập tan tành.

 

(32) Hàng vương giả sẽ từ Ai-cập đến,

còn xứ Cút sẽ dang tay cầu khẩn Chúa Trời.

 

(33) Hỡi vương quốc trần gian,

nào hát khen Thượng Ðế, hãy đàn ca mừng Chúa,

 

(34) Ðấng ngự chốn cửu trùng, chốn cửu trùng thái cổ.

Này Người lên tiếng, tiếng thật uy hùng.

 

(35) Hãy nhìn nhận sức uy hùng của Thiên Chúa,

ánh quang huy của Người chiếu toả trên Ít-ra-en,

sức uy hùng xuất hiện trên mây thẳm.

 

(36) Từ thánh điện, Thiên Chúa tỏ ra

Người là Ðấng khả tôn khả uý.

Chính Người là Thiên Chúa Ít-ra-en,

Ðấng ban tặng cho dân dũng lực uy quyền.

Xin chúc tụng Thiên Chúa.

 

Thánh Vịnh 69 (68):

Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa,

mà con phải thiệt thân

(1) Phần nhạc trưởng. Theo điệu: Bông huệ Của vua Ða-vít.

 

(2) Lạy Chúa Trời, xin cứu vớt con, vì nước đã dâng lên tới cổ.

 

(3) Con bị lún sâu xuống chỗ sình lầy,

chẳng biết đứng vào đâu cho vững,

thân chìm ngập trong dòng nước thẳm,

sóng dạt dào đã cuốn trôi đi.

 

(4) Kêu hoài nên kiệt sức, họng con đã ráo khô;

đôi mắt đã mỏi mòn bởi trông chờ Thiên Chúa.

 

(5) Kẻ vô cớ ghét con nhiều hơn tóc trên đầu,

bọn thù con vô lý lại mạnh thế hơn con.

Chẳng lấy chi của người, thế mà con phải trả!

 

(6) Lạy Chúa Trời, Ngài biết con điên dại,

lỗi lầm con, làm sao giấu được Ngài!

 

(7) Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn,

xin cho những người trông đợi Chúa

đừng vì con mà phải thẹn thùng.

Lạy Chúa Trời nhà Ít-ra-en,

xin đừng để những ai tìm kiếm Ngài

lại vì con mà mang tủi hổ.

 

(8) Âu cũng vì Ngài, mà con bị người đời thoá mạ,

chịu nhuốc nhơ phủ lấp mặt mày.

 

(9) Anh em nhà kể con như người dưng nước lã,

hàng máu mủxem con bằng khách lạ mà thôi.

 

(10) Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân.

Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu.

 

(11) Con nhịn ăn đến tiều tuỵ thân hình,

thì thành cớ cho người chế giễu;

 

(12) khoác vào mình tấm áo vải thô,

thì lại nên trò cười cho thiên hạ.

 

(13) Bọn ngồi lê đôi mách cứ gièm pha,

quân rượu chè cũng đặt vè châm chọc.

 

(14) Lạy CHÚA, phần con xin dâng Ngài lời nguyện,

lạy Chúa Trời, đây giờ phút thi ân.

Xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày,

vì Chúa vẫn trung thành ban ơn cứu độ.

 

(15) Xin Ngài kéo con lên

cho khỏi lún xuống chỗ sình lầy,

cho con thoát tay thù, thoát dòng nước thẳm.

 

(16) Xin đừng để sóng cồn cuốn con đi,

đừng để cho vực thẳm nuốt con vào,

và miệng hố sâu ngậm lại, chôn sống.

 

(17) Lạy CHÚA, xin lấy lòng nhân hậu mà đáp lại lời con;

xin mở lượng hải hà mà đoái thương nhìn đến.

 

(18) Xin đừng lánh mặt tôi tớ Chúa đây,

này con gặp nguy khốn, xin mau trả lời.

 

(19) Mong Chúa tiến lại gần và thương cứu mạng,

ban ơn giải thoát, vì có kẻ ghét con.

 

(20) Chúa biết rõ con bị người chửi mắng,

lại mang vào thân tủi hổ với nhục nhằn;

những kẻ thù con, Ngài nhìn thấy cả.

 

(21) Lời thoá mạ làm tim này tan vỡ, con héo hắt rã rời.

Nỗi sầu riêng, mong người chia sớt,

luống công chờ, không được một ai;

đợi người an ủi đôi lời,

trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu!

 

(22) Thay đồ ăn, chúng trao mật đắng,

con khát nước, lại cho uống giấm chua.

 

(23) Ước gì bàn tiệc chúng dọn ra nên cạm bẫy cho chúng sa vào,

và trở thành dò lưới ngay với cả bạn thân.

 

(24) Ước gì mắt chúng mù đi không thấy nữa,

và lưng sụm xuống đến mãn đời.

 

(25) Xin Ngài đổ cơn thịnh nộ lên người chúng

và cho lửa giận ập xuống đầu.

 

(26) Ước gì nơi chúng ở phải tan hoang,

lều trại chúng không còn ai trú ngụ.

 

(27) Vì kẻ bị Ngài đánh, chúng ngược đãi chẳng tha;

kẻ bị Ngài đả thương, chúng lại còn gây thêm thương tích.

 

(28) Xin đổ lên đầu chúng hết tội này đến tội kia

và chẳng hề kể chúng là công chính trước mặt Ngài.

 

(29) Ước gì chúng bị xoá tên trong sổ trường sinh,

chẳng được ghi vào số những người công chính.

 

(30) Phần con đây, thật khốn cùng đau khổ,

lạy Chúa Trời, xin cứu vớt đỡ nâng.

 

(31) Tôi sẽ hát bài ca chúc mừng Danh Thánh,

sẽ dâng lời cảm tạ tán dương Người.

 

(32) Làm như vậy sẽ đẹp lòng CHÚA

hơn dâng tiến bò bê đủ móng đủ sừng.

 

(33) Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên,

người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi.

 

(34) Vì CHÚA nhận lời kẻ nghèo khó,

chẳng coi khinh thân hữu bị giam cầm.

 

(35) Ca tụng Chúa đi, hỡi trời cao đất thấp,

hỡi biển sâu cùng hải vật muôn vàn!

 

(36) Vì Chúa Trời sẽ giải cứu Xi-on,

các thành thị miền Giu-đa, Người cũng tái thiết,

cho dân đến định cư lập nghiệp.

 

(37) Miền đất ấy sẽ trở nên gia tài

của giống nòi các tôi tớ Chúa,

thành quê hương xứ sở

của những người mến chuộng Thánh Danh.

 

Thánh Vịnh 70 (69):

Lạy Chúa Trời,

xin đến cứu con (Tv 40, 14-18)

(1) Phần nhạc trưởng. Của vua Ða-vít. Ðể tưởng nhớ.

 

(2) Lạy Chúa Trời, xin đến cứu con,

muôn lạy CHÚA, xin mau phù trợ!

 

(3) Ước gì những kẻ tìm hại mạng sống con

phải nhơ nhuốc thẹn thùng!

Ước gì bọn đắc chí vì con mắc hoạ

phải tháo lui nhục nhã!

 

(4) Những đứa cười ha hả nhạo con

phải quay gót thẹn thùng!

 

(5) Ước chi mọi kẻ tìm kiếm Chúa

đều mừng vui hoan hỷ trong Ngài!

Và những ai cảm mến ơn Ngài tế độ

luôn nói rằng : “Thiên Chúa vĩ đại thay!”

 

(6) Thân phận con khốn khổ nghèo hèn,

xin mau đến cùng con, lạy Thiên Chúa!

Ngài là Ðấng phù trợ, là Ðấng giải thoát con,

muôn lạy CHÚA, xin đừng trì hoãn.

 

Thánh Vịnh 71 (70):

Từ độ thanh xuân, tôi trông cậy Chúa

(1) Con ẩn náu bên Ngài, lạy CHÚA,

xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.

 

(2) Vì Ngài công chính, xin cứu vớt và giải thoát con,

ghé tai nghe và thương cứu độ.

 

(3) Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn,

như thành trì để cứu độ con,

núi đá và thành trì bảo vệ con, chính là Ngài.

 

(4) Lạy Thiên Chúa, xin giải thoát con khỏi bàn tay kẻ dữ,

khỏi móng vuốt phường nham hiểm và bọn dã man.

 

(5) Vì lạy Chúa, chính Ngài là Ðấng con trông đợi,

lạy ÐỨC CHÚA, chính Ngài là Ðấng con tin tưởng

ngay từ độ thanh xuân.

 

(6) Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ngài,

Ngài đã kéo con ra khỏi lòng mẹ,

con ca tụng Ngài chẳng khi ngơi.

 

(7) Con đã gây thắc mắc cho bao người,

nhưng Chúa là nơi vững chắc cho con vào trú ẩn.

 

(8) Miệng chứa chan lời tán tụng Chúa,

suốt ngày con chẳng ngớt tôn vinh.

 

(9) Xin đừng sa thải con lúc tuổi đà xế bóng,

chớ bỏ rơi khi sức lực suy tàn.

 

(10) Vì thù địch nặng lời chống đối,

quân rình hại mạng con đã nhất trí bày mưu,

 

(11) bảo nhau rằng : “Thiên Chúa bỏ hắn rồi, cứ truy nã,

bắt hắn đi, chẳng có ai cứu hắn đâu mà!”

 

(12) Lạy Thiên Chúa, xin đừng nỡ xa con,

lạy Thiên Chúa, xin Ngài mau trợ giúp!

 

(13) Ước gì những người muốn hại mạng sống con

đều phải chết nhục nhã ê chề;

kẻ tìm cách gây hoạ cho con

phải muôn vàn nhuốc nhơ xấu hổ.

 

(14) Phần con đây, vẫn một bề trông cậy,

và gia tăng lời tán tụng Ngài.

 

(15) Miệng con công bố Ngài chính trực,

suốt ngày tường thuật ơn cứu độ Ngài ban,

ơn của Ngài, nhiều khôn xiết kể!

 

(16) Con thuật lại bao chiến công của CHÚA,

nhắc nhở rằng : chỉ mình Ngài chính trực công minh.

 

(17) Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa,

con đã được Ngài thương dạy dỗ.

Tới giờ này, con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài.

 

(18) Cả lúc con già nua, da mồi tóc bạc,

lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con,

để con tường thuật quyền năng của Chúa

cho thế hệ này được rõ,

và dũng lực của Ngài

cho thế hệ mai sau.

 

(19) Lạy Thiên Chúa, đức chính trực của Ngài cao vời vợi,

Ngài đã làm những việc lớn lao,

lạy Thiên Chúa, nào ai sánh tày!

 

(20) Ngài bắt con nếm mùi tân khổ,

chính Ngài sẽ cho con được hoàn sinh

và kéo ra khỏi vực sâu lòng đất.

 

(21) Phần vinh hoa, Ngài sẽ ban nhiều, và trở lại vỗ về an ủi.

 

(22) Lạy Thiên Chúa, con dạo khúc hạc cầm

tạ ơn Ngài thành tín.

Gảy cung tỳ bà, con ngâm vịnh

kính dâng Ngài, lạy Ðức Thánh của Ít-ra-en.

 

(23) Miệng con sẽ reo hò theo nhịp đàn mừng Chúa.

Hồn con nữa, hồn con Ngài cứu chuộc,

cũng vui sướng hò reo.

 

(24) Và suốt ngày con nhẩm đi nhắc lại:

quả thật Ngài công chính!

Vì những kẻ tìm cách gây hoạ cho con sẽ xấu hổ thẹn thùng.

 

Thánh Vịnh 72 (71):

Vương quyền của Ðức Mê-si-a Vua

(1) Của vua Sa-lô-môn.

 

Tâu Thượng Ðế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,

trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,

 

(2) để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,

và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

 

(3) Núi đem lại cảnh hoà bình trăm họ,

đồi rước về nền công lý vạn dân.

 

(4) Người sẽ bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ,

ra tay cứu độ kẻ khó nghèo,

đập tan lũ cường hào ác bá.

 

(5) Nguyện chúc Người tuổi thọ sánh vầng ô,

như bóng nguyệt đến muôn đời muôn kiếp!

 

(6) Mong Người xuống tựa mưa sa nội cỏ,

ơn vũ lộ thấm nhuần cả đất đai.

 

(7) Triều đại Người, đua nở hoa công lý

và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.

 

(8) Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,

từ Sông Cả đến tận cùng trái đất.

 

(9) Dân vùng sa mạc khúm núm quy hàng,

tất cả đối phương nhục nhằn cắn cỏ.

 

(10) Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,

hàng vương giả sẽ về triều cống.

Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,

cũng đều tới tiến dâng lễ vật.

 

(11) Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,

muôn dân nước thảy đều phụng sự.

 

(12) Người giải thoát bần dân kêu khổ

và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,

 

(13) chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.

Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ,

 

(14) giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn,

từng giọt máu họ, Người đều coi là quý.

 

(15) Tân Vương vạn vạn tuế!

Thiên hạ sẽ đem vàng Ả-rập tiến dâng lên,

và cầu xin cho Người luôn mãi,

ngày lại ngày chúc phúc cho Người.

 

(16) Mong cho xứ sở đầy dư gạo thóc,

đỉnh non cao sóng lúa rì rào,

trổ bông vàng đẹp tựa núi Li-băng,

thâu lượm được nhiều như cỏ dại.

 

(17) Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,

nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.

Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,

và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.

 

(18) Chúc tụng ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa Ít-ra-en,

chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu.

 

(19) Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh,

ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu!

A-men. A-men.

 

Thánh Vịnh 73 (72):

Lạy Chúa Trời,

xin đến cứu con

(1) Thánh vịnh. Của ông A-xáp.

 

Thiên Chúa nhân hậu biết dường nào với nhà Ít-ra-en,

với những kẻ có lòng trong sạch!

 

(2) Thế mà tôi đã gần như hụt bước,

một chút nữa là tôi phải trượt chân,

 

(3) bởi ganh tị những người lên mặt

và thấy ác nhân thịnh đạt hoài.

 

(4) Quả là chúng không nếm mùi tân khổ,

chúng có thân hình mạnh mẽ phương phi,

 

(5) không hề vất vả như ai khác,

chẳng bị tai ương giống người đời.

 

(6) Vì vậy, chúng lấy vẻ kiêu căng làm vòng đeo cổ,

lấy thói bạo tàn làm áo che thân.

 

(7) Xác đầy mỡ tiết ra toàn gian ác,

và tâm địa chan chứa những mưu mô.

 

(8) Chúng chế giễu, buông lời thâm độc,

lại kiêu căng bàn chuyện ức hiếp người;

 

(9) miệng chẳng từ xúc phạm trời cao,

lưỡi tự do tung hoành cõi đất.

 

(10) Nên dân Ta hướng về chúng cả,

lời chúng thốt ra, hăm hở nuốt vào.

 

(11) Chúng bảo : “Chúa Trời đâu có biết,

Ðấng Tối Cao nào hiểu chuyện chi!”

 

(12) Aùc nhân như vậy đó,

chúng vẫn cứ an nhàn, thu tích của cải.

 

(13) Lạy Chúa, như thế là con đã uổng công

giữ lòng trong trắng, giữ tay thanh sạch!

 

(14) Suốt ngày con bị đòn bị đánh,

mỗi sớm mai hình phạt rình chờ.

 

(15) Giả như con tự nhủ : mình nói năng như chúng,

thì con đã thất trung với giống dòng con Chúa.

 

(16) Nên con mới gẫm suy để hiểu chuyện này,

nhưng đối với con thật là vất vả;

 

(17) cho tới ngày được vào trong thánh điện,

con mới am tường hậu vận chúng ra sao.

 

(18) Quả Ngài đặt chúng vào nơi trơn trượt,

đẩy cho rơi vào cảnh điêu tàn.

 

(19) Trong nháy mắt, hỡi ôi, chúng đã sụp đổ rồi,

nỗi kinh hoàng ập xuống, cuốn mất cả tăm hơi!

 

(20) Lạy Chúa, khi tỉnh giấc, Ngài xua đuổi hình ảnh chúng đi,

như giấc mộng phai mờ lúc người ta thức dậy.

 

(21) Khi lòng con ngậm hờn cay đắng

và nỗi đớn đau thấu tận ruột gan,

 

(22) con quả đã ngu si chẳng hiểu,

trước mặt Ngài, như thú vật nào hơn!

 

(23) Thật con ở với Chúa luôn,

tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rời,

 

(24) dắt dìu khuyên nhủ bao lời,

một mai đưa tới rạng ngời quang vinh.

 

(25) Con còn ai chốn trời xanh?

bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham.

 

(26) Dẫu cho hồn xác suy tàn,

thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con,

muôn đời là Chúa cao tôn.

 

(27) Kìa ai xa Chúa, sẽ mai một hết,

những kẻ phụ Ngài, Ngài diệt cả đi.

 

(28) Còn hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa,

chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời.

Mọi việc Ngài làm, con xin kể lại

nơi cửa vào thành thánh Xi-on.

 

Thánh Vịnh 74 (73):

Than vãn vì Ðền Thờ bị tàn phá

và thù địch lộng hành

(1) Thi khúc. Của ông A-xáp.

 

Lạy Chúa Trời, sao cứ mãi bỏ rơi,

sao bừng bừng nổi giận

với đoàn chiên Ngài hằng chăn dắt?

 

(2) Xin nhớ đến đoàn dân Ngài quy tụ thuở ban đầu,

chi tộc Ngài chuộc lấy làm sản nghiệp riêng,

và núi Xi-on, nơi Ngài ngự trị.

 

(3) Xin đặt bước vào chốn điêu tàn vạn cổ.

Trong thánh điện, quân thù đã phá đổ tan hoang.

 

(4) Chính chỗ xưa từng làm nơi hội họp,

nay đối phương ầm ĩ thét gào;

chúng trương cờ làm hiệu kỳ chiến thắng.

 

(5) Chúng như những kẻ múa riù trong rừng rậm,

 

(6) vồ búa vung lên, đập tan nát cửa đền.

 

(7) Thánh điện Ngài, chúng châm lửa đốt,

đền thờ Thánh Danh,

chúng xúc phạm, chúng san bằng;

 

(8) rồi tự nhủ: “Mình phá hết đi !”

Trong cả xứ, chúng thiêu hủy mọi nơi thờ phượng.

 

(9) Dấu lạ xưa, chúng con đâu thấy nữa,

ngôn sứ cũng chẳng còn.

Mãi đến khi nao, ai nào có biết?

 

(10) Lạy Thiên Chúa, tới bao giờ đối phương còn phỉ báng?

Ðịch thù cứ nhục mạ danh Ngài mãi mãi sao?

 

(11) Cánh tay Ngài, cánh tay dũng mãnh,

sao Ngài rút lại, chẳng can thiệp gì?

 

(12) Thế mà lạy Thiên Chúa, Vua chúng con tự muôn thuở,

Ðấng từng chiến thắng trên toàn cõi địa cầu,

 

(13) chính Ngài đã ra oai xẻ đôi lòng biển,

trên làn nước biếc, Ngài đập vỡ sọ thuồng luồng;

 

(14) chính Ngài đã nghiền nát bảy đầu con giao long,

vứt nó làm mồi cho thủy quái;

 

(15) chính Ngài đã khơi nguồn cho suối tuôn thác đổ,

chính Ngài làm cạn khô sông đang chảy dạt dào.

 

(16) Ngày là của Chúa, đêm cũng là của Chúa;

chính Ngài sắp đặt tinh tú cùng thái dương;

 

(17) chính Ngài vạch biên cương cho cõi đất,

thời hạ tiết đông, cũng chính Ngài thiết lập.

 

(18) Lạy CHÚA, xin nhớ cho : thù địch phỉ báng Ngài,

lũ dân điên rồ nhục mạ Thánh Danh.

 

(19) Thân phận bồ câu, xin đừng trao cho thú dữ,

đừng mãi mãi quên đi mạng sống dân nghèo khổ của Ngài.

 

(20) Giao ước thuở xưa, xin nhìn lại,

bởi vì khằp hang cùng ngõ hẻm,

chỉ thấy sào huyệt quân bạo tàn.

 

(21) Xin chớ để người bị áp bức phải ra về tủi hổ,

nhưng xin cho kẻ nghèo người khổ được ca ngợi Thánh Danh.

 

(22) Lạy Thiên Chúa, xin đứng lên biện hộ cho Ngài;

xin Chúa nhớ lại rằng:

quân điên dại ngày ngày phỉ báng Chúa.

 

(23) Xin đừng quên tiếng kẻ thù Chúa hò la,

tiếng quân địch thét gào vang lên mãi.

 

Thánh Vịnh 75 (74):

Thiên Chúa là thẩm phán công minh

(1) Phần nhạc trưởng. “Xin đừng phá đổ.” Thánh vịnh. Của ông A-xáp. Thánh ca.

 

(2) Lạy Thiên Chúa, chúng con xin tạ ơn Ngài,

tạ ơn Ngài và cầu khẩn Thánh Danh,

kỳ công Ngài, chúng con xin kể lại.

 

(3) Chúa phán : “Vào thời Ta ấn định, Ta sẽ xử công minh.

 

(4) Mặt đất cùng toàn thể dân cư, dù rung chuyển,

chính Ta đã làm cho cột trụ nó vững rồi.

 

(5) Ta bảo lũ kiêu căng : ‘Ðừng kiêu ngạo!’

Bảo phường tội lỗi : ‘Chớ dương oai!

 

(6) Này chớ dương oai ngạo với Trời,

ăn nói ngang tàng khinh cả Chúa’.”

 

(7) Vì chẳng có chi tự đông đoài hay sa mạc

làm cho ai được cất nhắc lên.

 

(8) Chỉ Thiên Chúa mới là thẩm phán,

Chúa hạ bệ người này, cất nhắc kẻ kia.

 

(9) Vì này tay CHÚA cầm chén rượu,

chén rượu đầy mùi vị đắng cay,

rót cho bọn gian ác trên đời,

tất cả đều phải uống, uống không chừa cặn.

 

(10) Phần tôi đây, sẽ hoan hỷ muôn đời

và đàn ca kính Chúa nhà Gia-cóp.

 

(11) Tôi sẽ đập tan uy quyền kẻ dữ,

còn uy thế người lành sẽ được nâng cao.

 

Thánh Vịnh 76 (75):

Tạ ơn sau khi chiến thắng

(1) Phần nhạc trưởng. Theo huyền cầm. Thánh vịnh. Của ông A-xáp. Thánh ca.

 

(2) Miền Giu-đa nức tiếng Chúa Trời,

tại Ít-ra-en, danh Người cao cả.

 

 (3) Chúa đã cắm lều ở Sa-lem, núi Xi-on là nơi Chúa ngự.

 

 (4) Chính tại đó, Người bẻ gãy cung tên,

khiên mộc gươm đao, mọi võ khí.

 

 (5) Lạy Chúa, Ngài quả là lẫm liệt oai hùng,

vì chiến lợi phẩm thu về từng núi,

 

 (6) đoạt của lớp anh hùng mê mệt ngủ say

và đoàn dũng sĩ cánh tay rời rã.

 

 (7) Lạy Chúa nhà Gia-cóp, Chúa thị uy

là ngựa xe đứng liền tại chỗ.

 

 (8) Quả thật Ngài đáng sợ!

Trong lúc Ngài nổi trận lôi đình,

nào ai đứng vững trước Thánh Nhan?

 

 (9) Tự chốn trời cao, Ngài tuyên án:

trái đất này kinh hãi lặng yên,

 

 (10) khi Chúa Trời đứng lên xét xử,

cứu mọi kẻ nghèo hèn chốn dương gian.

 

 (11) Cả cơn giận phàm nhân cũng thành lời ca tụng,

kẻ thoát lôi đình sẽ mở hội mừng Ngài.

 

 (12) Hãy khấn nguyền và giữ y lời hứa

với Chúa là Thiên Chúa các ngươi.

Kẻ hầu cận Ðấng khả tôn khả uý

hãy đem lễ vật tiến dâng Người.

 

 (13) Người đập tan khí thế bao thủ lãnh,

gây kinh hoàng cho vua chúa trần gian.

 

Thánh Vịnh 77 (76):

Hồi tưởng những kỳ công của Thiên Chúa

(1) Phần nhạc trưởng? Giơ-đu-thun. Của ông A-xáp. Thánh vịnh.

 

(2) Tôi cất lời kêu lên cùng Chúa,

lời tôi kêu Chúa, xin Người lắng nghe.

 

 (3) Ngày khốn quẫn, tôi tìm kiếm Chúa,

tay vươn lên không biết mỏi lúc đêm trường,

hồn tôi nào có thiết lời an ủi!

 

 (4) Tưởng nhớ Chúa, tôi thở vắn than dài,

suy gẫm hoài nên khí lực tiêu hao.

 

 (5) Lạy Chúa, Ngài không để con khép mi chợp mắt,

lòng xao xuyến, con chẳng nói lên lời.

 

 (6) Hồi tưởng lại bao ngày xa cũ,

tâm hồn ấp ủ những năm xưa,

 

 (7) suốt canh khuya, trong dạ nhủ thầm,

và suy gẫm, trí lòng con tự hỏi:

 

 (8) Phải chăng Chúa ruồng bỏ đến muôn đời,

chẳng bao giờ còn dủ lòng thương đoái?

 

 (9) Tình yêu Chúa phải chăng nay đã cạn hẳn

và thánh ngôn chấm dứt đời đời?

 

 (10) Hay Thiên Chúa đã quên thương xót,

vì giận hờn mà khép kín từ tâm?

 

 (11) Tôi tự bảo : điều làm tôi đau đớn

là Ðấng Tối Cao chẳng còn ra tay nữa.

 

 (12) Lạy CHÚA, con tưởng nhớ bao việc Ngài làm,

tưởng nhớ những kỳ công thuở trước.

 

 (13) Mọi hành động của Ngài, con nhẩm đi nhắc lại,

sự nghiệp Ngài, con sẽ gẫm suy.

 

 (14) Lạy Thiên Chúa, đường lối Ngài quả là thánh thiện,

có thần nào cao cả như Thiên Chúa?

 

 (15) Chính Ngài là vị Thần thực hiện những kỳ công,

biểu dương sức mạnh giữa muôn vàn dân nước.

 

 (16) Tay Chúa đã cứu chuộc dân Ngài

là giống nòi Gia-cóp và Giu-se.

 

 (17) Nước đã thấy Ngài, lạy Thiên Chúa,

thấy Ngài, nước rùng mình khiếp sợ,

cả vực sâu cũng run rẩy kinh hoàng.

 

 (18) Mây tầng đổ mưa, mây tầng vang tiếng,

ngang dọc khắp trời, tên lửa Ngài bay.

 

 (19) Tiếng sấm của Chúa ầm ầm vang dội,

ánh chớp chói loà soi sáng thế gian,

khắp địa cầu lung lay rung chuyển.

 

 (20) Ðường của Chúa băng qua biển rộng,

lối của Ngài rẽ nước mênh mông,

mà chẳng ai nhận thấy vết chân Ngài.

 

 (21) Chúa dùng bàn tay của Mô-sê và A-ha-ron

mà lãnh đạo dân riêng của Chúa,

như dẫn dắt đoàn chiên.

 

Thánh Vịnh 78 (77):

Lịch sử Ít-ra-en cho thấy Thiên Chúa nhân từ

mà dân Chúa lại bội bạc

(1) Thi khúc. Của ông A-xáp.

 

Dân tôi hỡi, này nghe tôi dạy bảo,

Lắng tai đón nhận lời lẽ miệng tôi.

 

 (2) Mở miệng ra, tôi sẽ nói đôi lời huấn dụ,

công bố điều huyền bí thuở xa xưa.

 

 (3) Ðiều chúng tôi đã từng nghe biết

do cha ông kể lại cho mình,

 

 (4) chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả,

sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau:

sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của CHÚA,

với những kỳ công Chúa đã làm.

 

 (5) Người đã ban huấn lệnh cho nhà Gia-cóp,

đặt ra lề luật cho Ít-ra-en,

dạy tổ tiên chúng tôi truyền lại

cho con cháu các cụ được tường,

 

 (6) hầu thế hệ tương lai kẻ hậu sinh cũng biết,

rồi mai ngày đến lượt kể cho con cháu mình.

 

 (7) Như vậy, chúng sẽ đặt niềm tin vào Thiên Chúa,

không lãng quên những việc Chúa làm

và tuân giữ lệnh Người truyền dạy:

 

 (8) Ðứng như thể cha ông, nòi ngoan cố phản loạn,

nòi tâm địa thất thường, dạ bất trung cùng Chúa.

 

 (9) Người chi tộc Ép-ra-im rành nghề cung nỏ,

ngày giao chiến đành phải tháo lui;

 

 (10) họ không giữ giao ước với Chúa Trời,

và chẳng chịu sống theo luật Chúa;

 

 (11) đã quên đi những việc Người làm

những kỳ công Người đã cho chứng kiến.

 

 (12) Trước mắt cha ông họ, Người đã làm bao việc lạ lùng

tại cánh đồng Xô-an bên Ai-cập.

 

 (13) Người rẽ Biển Ðỏ cho họ vượt qua,

dồn nước lại như tường thành sừng sững;

 

 (14) dùng cột mây hướng dẫn họ ban ngày

và ban đêm lấy lửa hồng soi sáng.

 

 (15) Người xẻ đá giữa sa mạc hoang vu,

khiến nước tuôn tràn cho dân được uống,

 

 (16) từ khe đá, Người khơi dòng suối chảy,

nước đổ dạt dào như những con sông.

 

 (17) Nhưng dân lại càng phạm tội mất lòng Chúa,

phản nghịch cùng Ðấng Tối Cao tại miền hoang địa;

 

 (18) họ chủ tâm thử thách cả Chúa Trời,

đòi được ăn cho vừa sở thích.

 

 (19) Họ kêu trách Thiên Chúa rằng trong sa mạc này,

liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn?

 

 (20) Người đập vào tảng đá làm cho nước chảy ra

như thác lũ lan tràn,

nhưng liệu còn có thể cung cấp cho dân Người

bánh và thịt nữa chăng?

 

 (21) Nghe thấy thế, CHÚA liền phẫn nộ,

bừng lửa giận với nhà Gia-cóp,

nổi trận lôi đình với Ít-ra-en,

 

 (22) vì họ đã không tin ở Chúa Trời,

chẳng cậy trông ơn Người cứu độ.

 

 (23) Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm,

lại truyền mở rộng cánh thiên môn;

 

 (24) Người khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống,

và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.

 

 (25) Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần,

Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.

 

 (26) Trên trời cao, Người giục gió đông thổi tới,

dùng sức mạnh đưa ngọn gió nam về.

 

 (27) Người cho mưa thịt xuống nhiều như bụi,

chim chóc ê hề như cát đại dương;

 

 (28) Người cho rớt vào ngay doanh trại, chung quanh lều dân ở.

 

 (29) Họ được ăn, ăn thật no nê,

thèm thứ gì, Người đãi cho thứ đó.

 

 (30) Nhưng khi họ chưa kịp đã thèm,

khi miếng ăn còn chưa kịp nuốt,

 

 (31) thì cơn giận Chúa Trời đã bừng lên phạt họ.

Chúa giết ngay những người khoẻ nhất Ít-ra-en.

Chúa giết liền bọn trai trẻ ấy.

 

 (32) Thế mà dân cứ phạm thêm bao tội lỗi,

chẳng buồn tin việc lạ Chúa làm,

 

 (33) nên kiếp sống họ, Người diệt đi trong khoảnh khắc,

tuổi đời họ, Người chấm dứt thình lình.

 

 (34) Khi Chúa giết họ, họ mới đi tìm Chúa,

mới trở lại và mau mắn kiếm Người,

 

 (35) mới nhớ rằng: Thiên Chúa là núi đá họ ẩn thân,

Thiên Chúa Tối Cao là Ðấng cứu chuộc họ.

 

 (36) Miệng họ phỉnh phờ Chúa, lưỡi họ lừa dối Người;

 

 (37) còn lòng dạ chẳng chút gì gắn bó,

chẳng trung thành giữ giao ước của Người.

 

 (38) Nhưng Người vẫn xót thương, thứ tha, không tiêu diệt,

nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí.

 

 (39) Chúa nhớ rằng: thân phận chúng: bọt bèo mỏng mảnh,

gió thoảng qua, không hẹn ngày về.

 

 (40) Trong sa mạc, bao lần dân làm phản,

trêu giận Người giữa chốn hoang vu.

 

 (41) Khiêu khích Chúa, họ thử đi thách lại,

làm cực lòng Ðức Thánh của Ít-ra-en,

 

 (42) không còn nhớ tay quyền năng của Chúa,

quên ngày Chúa cứu khỏi ách quân thù.

 

 (43) Khi Người tung ra những điềm thiêng bên Ai-cập

và bao dấu lạ trong cánh đồng Xô-an.

 

 (44) Kìa nước sông nước suối, Người biến ra máu hồng,

khiến cho dân Ai-cập không thể nào uống nổi.

 

 (45) Người sai mòng đến cắn, ếch nhái làm tan hoang,

 

 (46) cào cào ăn lúa má, châu chấu phá mùa màng;

 

 (47) mưa đá huỷ vườn nho, sương muối diệt cây vả,

 

 (48) dịch tàn sát chiên dê, thời khí hại bò lừa.

 

 (49) Người trút lửa giận lên đầu dân Ai-cập,

nào lôi đình, nào thịnh nộ với gian truân,

đó là cả một đạo hung thần.

 

 (50) Người để cho cơn giận tung hoành mặc sức,

sinh mạng chúng, Người chẳng dung tha,

nhưng bắt phải chết vì dịch tễ.

 

 (51) Người giết mọi con đầu lòng Ai-cập,

là tinh hoa của dòng giống họ Kham.

 

 (52) Còn dân Chúa, Người dẫn đi như thể đàn cừu,

đem họ vào sa mạc chẳng khác bầy chiên,

 

 (53) đưa họ đi an toàn, chẳng có chi phải sợ,

nhưng quân thù họ bị biển khơi chôn vùi.

 

 (54) Chúa đưa dân vào miền thánh địa

là vùng núi non tay Người đã chiếm.

 

 (55) Trước mặt họ, Người đuổi dân ngoại đi,

đo đất chia làm phần gia sản,

cấp cho mọi chi tộc Ít-ra-en,

để họ tới dựng lều cư ngụ.

 

 (56) Thế mà họ thử thách, phản lại Chúa Chí Tôn,

lệnh Người đã ban truyền, họ chẳng tuân chẳng giữ.

 

 (57) Họ xa lìa, phản bội, chẳng khác gì cha ông,

luôn tráo trở thất thường như cánh cung sai chạy.

 

 (58) Họ lập đàn thờ quấy mà trêu giận Chúa Trời,

lại tôn sùng ngẫu tượng khiến Chúa phải ghen tương.

 

 (59) Nghe thấy thế, Người nổi cơn thịnh nộ,

quyết tình ruồng rẫy Ít-ra-en,

 

 (60) và từ bỏ ngôi đền Si-lô là lều Chúa ngự giữa loài người.

 

 (61) Hòm bia thánh tượng trưng uy quyền vinh quang Chúa,

Người cũng để tay thù chiếm đoạt mang đi.

 

 (62) Quá bất bình với dân được chọn làm gia sản

Người phó mặc họ cho lưỡi gươm hung tàn.

 

 (63) Lửa chiến chinh huỷ diệt đời trai tráng,

thiếu nữ chẳng còn được nghe điệu vu quy!

 

 (64) Hàng tư tế bị gươm đao sát hại,

goá phụ thương chồng mà chẳng được khóc than!

 

 (65) Bấy giờ Chúa như người đang ngủ,

như tướng hùng đã thấm men say,

 

 (66) bỗng tỉnh giấc, đánh cho quân thù quay lưng chạy,

phải thảm thê nhục nhã muôn đời.

 

 (67) Chúa loại bỏ nhà Giu-se,

chi tộc Ép-ra-im, Người không tuyển chọn,

 

 (68) nhưng tuyển chọn chi tộc Giu-đa

và núi Xi-on, nơi Người ưa thích.

 

 (69) Chúa xây thánh điện Người như trời xanh cao thẳm,

và cũng như trái đất Người đặt vững muôn đời.

 

 (70) Chúa chọn Ða-vít, người tôi trung,

cất nhắc ông, thuở còn là mục tử,

cho vời đến, lúc đang giữ bầy chiên,

 

 (71) để chăn dắt dân Người là Gia-cóp,

và Ít-ra-en sản nghiệp của Người.

 

 (72) Ông chăn dắt họ với một lòng liêm chính,

tay dẫn đưa khéo léo tài tình.

 

Thánh Vịnh 79 (78):

Lời than vãn về thành thánh Giê-ru-sa-lem

và Ðền Thờ bị phá huỷ

(1) Thánh vịnh. Của ông A-xáp.

 

Lạy Thiên Chúa, dân ngoại đã xâm lăng lãnh địa Ngài;

chúng làm ô uế cả nơi thánh điện,

phá huỷ Giê-ru-sa-lem thành đống tro tàn;

 

 (2) tử thi những người tôi tớ Chúa,

chúng đem liệng cho chim trời ăn;

xác những kẻ hiếu trung với Ngài,

lại quẳng làm mồi cho dã thú.

 

 (3) Quanh khắp cả Giê-ru-sa-lem

chúng đổ máu dân Ngài như nước chảy,

người chết chẳng ai chôn.

 

 (4) Chúng con bị láng giềng thoá mạ

người chung quanh phỉ báng nhạo cười.

 

 (5) Ðến bao giờ, lạy CHÚA, Ngài còn nổi giận,

Ngài nổi giận mãi sao?

Ðến bao giờ lòng ghen còn cháy bừng như lửa?

 

 (6) Xin giáng trận lôi đình

xuống đầu các dân ngoại đã không nhận biết Ngài,

và trên các vương quốc chẳng kêu cầu Thánh Danh,

 

 (7) vì chúng đã tiêu diệt nhà Gia-cóp,

tàn phá cả đất đai.

 

 (8) Tội tiền nhân, xin Chúa đừng nhớ mãi

mà trừng phạt chúng con.

Xin dủ lòng thương mau đến giúp,

vì chúng con đã khổ quá nhiều.

 

 (9) Lạy Chúa Trời, Ðấng cứu độ chúng con,

xin Ngài thương phù trợ, để danh Ngài rạng rỡ.

Xin giải thoát chúng con, và thứ tha tội lỗi,

vì danh dự của Ngài.

 

 (10) Sao Ngài để cho dân ngoại nói:

Thiên Chúa chúng ở đâu?”

Ước gì chúng con thấy nhãn tiền:

Ngài làm cho chư dân nhận biết

rằng chúng phải đền nợ máu tôi tớ Ngài,

máu chúng đã đổ ra.

 

 (11) Ước gì tiếng tù nhân rên siết vọng lên thấu tai Ngài.

Xin giơ tay hùng mạnh cứu sống những người mang án tử.

 

 (12) Lạy Chúa, kẻ láng giềng chúng con đã lăng nhục Chúa,

xin trả báo cho bản thân chúng gấp bảy lần.

 

Thánh Vịnh 80 (79):

Lạy Thiên Chúa,

xin thăm nom vườn nho của Chúa

(1) Phần ca trưởng. Ðiệu: Bông huệ chứng tri. Của ông A-xáp. Thánh vịnh.

 

(2) Lạy Mục Tử nhà Ít-ra-en,

Ngài là Ðấng chăn giữ nhà Giu-se

như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe!

Ngài là Ðấng ngự trên các thần hộ giá,

 

 (3) xin giãi sáng hiển linh cho dòng dõi Ép-ra-im,

Ben-gia-min và Mơ-na-se được thấy.

Xin khơi dậy uy dũng của Ngài,

đến cùng chúng con và thương cứu độ.

 

 (4) Lạy Thiên Chúa, xin phục hồi chúng con,

xin toả ánh tôn nhan rạng ngời

để chúng con được ơn cứu độ.

 

 (5) Lạy CHÚA là Chúa Tể càn khôn,

đến khi nao Chúa còn nóng giận,

chẳng màng chi lời dân Chúa nguyện cầu?

 

 (6) Cơm Ngài cho ăn chỉ là châu luỵ,

nước Ngài cho uống là suối lệ chứa chan.

 

 (7) Ngài đã khiến chúng con thành cớ

cho lân bang cãi cọ tranh giành,

cho thù địch nhạo cười chế giễu.

 

 (8) Lạy Chúa Tể càn khôn, xin phục hồi chúng con,

xin toả ánh tôn nhan rạng ngời

để chúng con được ơn cứu độ.

 

 (9) Gốc nho này, Chúa bứng từ Ai-cập,

đuổi chư dân, lấy chỗ mà trồng,

 

 (10) Chúa khẩn hoang bốn bề quang đãng,

cho bén rễ sâu và lan rộng khắp nơi.

 

 (11) Bóng um tùm phủ xanh đầu núi,

cành sum sê rợp bá hương thần,

 

 (12) nhánh vươn dài tới phía đại dương,

chồi mọc xa đến tận miền Sông Cả.

 

 (13) Tường rào nó, vậy sao Ngài phá đổ?

Khách qua đường mặc sức hái mà ăn!

 

 (14) Heo rừng vào phá phách,

dã thú gặm tan hoang.

 

 (15) Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại,

từ cõi trời, xin ngó xuống mà xem,

xin Ngài thăm nom vườn nho cũ,

 

 (16) bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng,

và chồi non được Ngài ban sức mạnh.

 

 (17) Những người đã hoả thiêu chặt phá,

Ngài nghiêm sắc mặt là chúng phải tiêu tan

 

 (18) Xin giơ tay bênh vực Ðấng đang ngồi bên hữu

là con người được Chúa ban sức mạnh.

 

 (19) Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu,

cúi xin Ngài ban cho được sống,

để chúng con xưng tụng danh Ngài

 

 (20) Lạy CHÚA là Chúa Tể càn khôn,

xin phục hồi chúng con,

xin toả ánh tôn nhan rạng ngời

để chúng con được ơn cứu độ.

 

Thánh Vịnh 81 (80):

Long trọng nhắc lại lời giao ước

(1) Phần ca trưởng. Có họa đàn thành Gát. Của ông A-xáp.

 

(2) Reo lên mừng Thiên Chúa, Ðấng trợ lực chúng ta!

Hò vang dậy đi nào kính Chúa nhà Gia-cóp!

 

 (3) Ðàn hát lên nào, hoà nhịp trống cơm,

bổng trầm gieo tiếng cầm tiếng sắt.

 

 (4) Rúc lên đi, hãy rúc tù và,

mồng một ngày rằm cho ta mừng lễ.

 

 (5) Ðó là luật Ít-ra-en phải cứ,

Thiên Chúa nhà Gia-cóp đã phán truyền.

 

 (6) Chỉ thị này, nhà Giu-se đã nhận khi bỏ miền Ai-cập ra đi.

Một giọng nói tôi nghe khác lạ,

 

 (7) rằng: “Gánh nặng vai dân, Ta đã cất cho,

tay họ thôi cầm chiếc ki người nô lệ.

 

 (8) Lúc ngặt nghèo, ngươi kêu lên,

Ta liền giải thoát.

Giữa mây mù sấm chớp, Ta đã đáp lời,

bên mạch nước Mơ-ri-va, Ta thử lòng ngươi.

 

 (9) “Dân Ta hỡi, nghe Ta cảnh cáo,

Ít-ra-en này, phải chi ngươi chịu nghe Ta,

 

 (10) thì đừng đem thần lạ về nhà,

thần ngoại bang, chớ hề cúng bái.

 

 (11) Chính Ta là THƯỠNG ÐẾ Chúa ngươi,

đã đưa ngươi lên từ miền Ai-cập,

há miệng ngươi ra, Ta sẽ cho đầy ứ.

 

 (12) “Nhưng dân Ta đã chẳng nghe lời,

Ít-ra-en nào đâu có chịu.

 

 (13) Ta đành mặc họ lòng chai dạ đá,

muốn đi đâu thì cứ việc đi!

 

 (14) “Ôi dân Ta mà đã nghe lời,

Ít-ra-en chịu theo đường Ta chỉ,

 

 (15) thì hết những địch thù của chúng,

những kẻ hà hiếp chúng xưa nay,

Ta tức khắc trở tay quật ngã;

 

 (16) “Kẻ thù CHÚA sẽ cầu thân nịnh bợ,

ấy là số phận chúng muôn đời;

 

 (17) còn dân Ta, Ta sẽ nuôi bằng lúa mì tinh hảo,

mật ong rừng, Ta cho hưởng thoả thuê.”

 

Thánh Vịnh 82 (81):

Tố cáo những thẩm phán bất công

(1) Thánh vịnh. Của ông A-xáp.

 

Thượng Ðế chủ tọa triều đình thiên quốc,

Người xử án giữa chư thánh chư thần:

 

 (2) “Tới bao giờ các ngươi còn xử án bất công,

hay còn thiên vị phường gian ác?

 

 (3) Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn;

minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng,

 

 (4) giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng,

cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân.

 

 (5) “Vậy mà chúng chẳng hay chẳng hiểu,

cứ bước đi, giữa tăm tối mịt mù,

khiến nền tảng địa cầu phải lung lay nghiêng ngả.

 

 (6) Ta đã phán: Hết thảy các ngươi đây

đều là bậc thần thánh, là con Ðấng Tối Cao,

 

 (7) thế nhưng rồi phải chết không khác kẻ phàm nhân,

và có ngày sụp đổ như mọi bậc quan quyền.”

 

 (8) Tâu Thượng Ðế, xin Ngài đứng dậy mà xét xử địa cầu,

vì chính Ngài làm chủ muôn dân.

 

Thánh Vịnh 83 (82):

Kẻ thù của Ít-ra-en

liên minh chống lại Ít-ra-en và Thiên Chúa

(1) Thánh vịnh. Thánh ca. Của ông A-xáp.

 

(2) Lạy Thiên Chúa, xin đừng làm thinh,

xin đừng nín lặng ngồi yên, lạy Thiên Chúa.

 

 (3) Kìa kẻ thù Chúa ồn ào náo động,

bọn ghét Ngài đang ngóc đầu lên.

 

 (4) Chúng lập kế chống lại dân Ngài,

bày mưu chống những kẻ Ngài bảo trợ.

 

 (5) Chúng rằng: “Nào ta hây diệt bọn đó đi,

để chúng không còn là một dân tộc nữa

và chẳng còn ai nhắc đến tên tuổi Ít-ra-en.”

 

 (6) Chúng đồng lòng bày mưu lập kế,

liên minh chống lại Ngài:

 

 (7) Nào là dân Ê-đôm cùng với Ít-ma-ên, Mô-áp và Ha-ga.

 

 (8) Nào là dân Gơ-van, Am-mon, A-ma-lếch

và Phi-li-tinh cùng dân thành Tia nữa.

 

 (9) Cả Aùt-sua cũng vào hùa với chúng

và tiếp tay cho dòng dõi Lót.

 

 (10) Xin Ngài xử với chúng như đã xử với dân Ma-đi-an,

với hai tên Xi-xơ-ra và Gia-vin tại khe suối Ki-sôn;

 

 (11) hai tên này đã bị tiêu diệt tại Ên Ðo

và thành phân bón ruộng.

 

 (12) Xin làm cho vua quan của chúng

phải đồng số phận cùng Ô-rếp và Dơ-ếp,

cho thủ lãnh của chúng

cùng chung vận mạng với De-vác và Xan-mun-na;

 

 (13) những tên này đã nói:

Ta hãy chiếm lãnh địa Thiên Chúa!”

 

 (14) Lạy Thiên Chúa con thờ,

xin làm cho chúng như chiếc lá quay cuồng,

như cọng rơm trước gió.

 

 (15) Giống như lửa thiêu rừng, tựa hoả hào đốt núi,

 

 (16) Xin Ngài cho nổi cơn dông tố đuổi chúng đi,

cho bừng lên trận bão làm chúng hoảng sợ.

 

 (17) Xin cho chúng phải bẽ mặt ê chề,

để chúng kiếm tìm danh Ngài, lạy CHÚA.

 

 (18) Xin cho chúng phải muôn đời nhuốc nhơ hoảng sợ,

phải xấu hổ diệt vong,

 

 (19) để chúng nhận biết rằng chỉ có Ngài mang danh ÐỨC CHÚA,

Ðấng Tối Cao trên khắp địa cầu.

 

Thánh Vịnh 84 (83):

Ước mong về Ðền Thánh

(1) Phần nhạc trưởng. Có họa đàn thành Gát. Của con cái ông Cô-rắc. Thánh vịnh.

 

(2) Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái.

 

 (3) Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi

mong tới được khuôn viên đền vàng.

Cả tấm thân con cùng là tấc dạ

những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng.

 

 (4) Lạy Chúa Tể càn khôn là Ðức Vua, là Thiên Chúa con thờ,

ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,

cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con

bên bàn thờ của Chúa!

 

 (5) Phúc thay người ở trong thánh điện

họ luôn luôn được hát mừng Ngài.

 

 (6) Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh,

ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương.

 

 (7) Lúc trẩy qua thung lũng Khô Cằn,

họ biến nó thành nguồn suối nước,

mưa đầu mùa đổ phúc lộc chứa chan.

 

 (8) Càng tiến lên, họ càng mạnh bước

đến chiêm ngưỡng Chúa Trời ngự trên núi Xi-on.

 

 (9) Lạy CHÚA là Chúa Tể càn khôn,

xin đoái nghe lời con cầu nguyện.

Xin lắng tai, lạy Chúa nhà Gia-cóp.

 

 (10) Lạy Chúa là khiên mộc chở che,

xin thương xem nhìn đến

gương mặt đấng Ngài đã xức dầu.

 

 (11) Một ngày tại khuôn viên thánh điện

quý hơn cả ngàn ngày.

Thà con ở cổng đền Thiên Chúa

vẫn còn hơn sống trong trại ác nhân!

 

 (12) Thiên Chúa là vầng thái dương, là thuẫn đỡ,

CHÚA tặng ban ân huệ với vinh quang.

Ai sống đời trọn hảo, Người chẳng nỡ từ chối ơn lành.

 

 (13) Lạy Chúa Tể càn khôn, phúc thay người tin tưởng vào Chúa!

 

Thánh Vịnh 85 (84):

Xin ơn bình an và cứu độ

(1) Phần nhạc trưởng. Của con cái ông Cô-rắc. Thánh vịnh.

 

(2) Lạy CHÚA, Ngài đã tỏ lòng thương thánh điện,

tù nhân nhà Gia-cóp, Ngài dẫn đưa về.

 

 (3) Tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ, mọi lỗi lầm, cũng phủ lấp đi.

 

 (4) Ngài dẹp trận lôi đình và nguôi cơn thịnh nộ.

 

 (5) Lạy Chúa Trời, Ðấng cứu độ chúng con,

xin dẫn chúng con về, đừng hận chúng con nữa.

 

 (6) Phải chăng Ngài giận mãi không thôi,

đời lại đời cứ nuôi cơn thịnh nộ?

 

 (7) Nào chẳng phải chính Ngài

sẽ lại làm cho chúng con được sống

để dân riêng được hoan hỉ trong Ngài?

 

 (8) Lạy CHÚA, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa,

và ban ơn cứu độ cho chúng con.

 

 (9) Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán,

điều CHÚA phán là lời chúc bình an

cho dân Người, cho kẻ trung hiếu

và những ai hướng lòng trí về Người.

 

 (10) Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa,

để vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.

 

 (11) Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,

hoà bình công lý đã giao duyên.

 

 (12) Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,

công lý nhìn xuống tự trời cao.

 

 (13) Vâng, chính CHÚA sẽ tặng ban phúc lộc

và đất chúng ta trổ sinh hoa trái.

 

 (14) Công lý đi tiền phong trước mặt Người,

mở lối cho Người đặt bước chân.

 

Thánh Vịnh 86 (85):

Người khó nghèo cầu nguyện trong cơn quẫn bách

(1) Lời cầu khẩn. Của vua Ða-vít.

 

Lạy CHÚA, xin lắng tai và đáp lời con,

vì thân con nghèo hèn túng quẫn.

 

 (2) Xin CHÚA bảo toàn sinh mạng con, bởi vì con trung hiếu.

Xin cứu độ tôi tớ Ngài đây hằng tin tưởng nơi Ngài.

 

 (3) Chính Ngài là Thiên Chúa của con,

xin rủ lòng thương con, lạy Chúa:

con kêu con gọi Chúa suốt ngày.

 

 (4) Lạy Chúa, xin làm cho con được vui thoả,

vì con nâng tâm hồn lên tới Chúa.

 

 (5) Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng,

giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin;

 

 (6) Lạy CHÚA, xin lắng nghe lời con cầu khẩn,

tiếng con van nài, xin để ý lưu tâm.

 

 (7) Lâm cảnh ngặt nghèo, con kêu lên Chúa,

vì Chúa vẫn đáp lời.

 

 (8) Không một thần linh sánh kịp Ngài, lạy Chúa,

việc Ngài làm, quả thật vô song.

 

 (9) Lạy Chúa, muôn dân chính tay Ngài tạo dựng

sẽ về phủ phục trước Thánh Nhan, và tôn vinh danh Ngài.

 

 (10) Vì Ngài thật cao cả, và làm nên những việc lạ lùng;

chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa.

 

 (11) Xin dạy con đường lối Ngài, lạy CHÚA,

để con vững bước theo chân lý của Ngài.

Xin Chúa hướng lòng con,

Ðể con biết một niềm kính tôn Danh Thánh.

 

 (12) Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, con hết lòng cảm tạ,

Thánh danh Ngài, con mãi mãi tôn vinh,

 

 (13) vì tình thương Chúa thương con như trời như biển,

Ngài đã kéo con ra khỏi vực thẳm âm ty.

 

 (14) Lạy Thiên Chúa, phường kiêu ngạo nổi lên chống đối,

bè lũ hung tàn tìm hại mạng sống con:

chúng đâu có kể chi đến Ngài.

 

 (15) Phần Ngài, muôn lạy Chúa,

Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi,

Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín.

 

 (16) Xin đoái nhìn và xót thương con,

ban sức mạnh của Ngài và xuống ơn cứu độ

cho tôi tớ Ngài đây, con của nữ tỳ Ngài.

 

 (17) Xin ban cho con một điềm báo phúc,

để bọn thù ghét con trông thấy mà hổ thẹn,

vì, lạy CHÚA, chính Ngài giúp đỡ ủi an con.

 

Thánh Vịnh 87 (86):

Thành Xi-on là mẹ muôn dân

(1) Của con cái ông Cô-rắc. Thánh vịnh. Thánh ca.

 

Thành Xi-on được lập trên núi thánh.

 

 (2) CHÚA yêu chuộng cửa thành

hơn mọi nhà của dòng họ Gia-cóp.

 

 (3) Thành của Thiên Chúa hỡi,

thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành!

 

 (4) Chúa phán: “Ta sẽ kể Ba-by-lon và Ai-cập

vào số những dân tộc nhận biết Ta.

Kìa xứ Phi-li-tinh, thành Tia cùng xứ Cút:

tại đó, kẻ này người nọ đã sinh ra.”

 

 (5) Nhưng nói về Xi-on, thiên hạ bảo:

Người người sinh tại đó.”

Chính Ðấng Tối Cao đã củng cố thành.

 

 (6) CHÚA ghi vào sổ bộ các dân:

Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó.”

 

 (7) Và ai nấy múa nhảy hát ca:

Xi-on hỡi, mọi nguồn gốc của tôi ở nơi thành.”

 

Thánh Vịnh 88 (87):

Lời cầu xin trong lúc ngặt nghèo

(1) Thánh ca. Thánh vịnh. Của con cái ông Cô-rắc.

Phần nhạc trưởng. Lúc bệnh hoạn. Lúc sầu muộn.

Thi khúc. Của ông Hê-man, người Ét-ra.

 

(2) Lạy CHÚA là Thiên Chúa cứu độ con,

trước Thánh Nhan, đêm ngày con kêu cứu.

 

 (3) Nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài,

xin lắng nghe tiếng lòng thổn thức.

 

 (4) Vì hồn con ngập tràn đau khổ,

mạng sống con âm phủ gần kề,

 

 (5) thân kể như đã vào phần mộ,

ví tựa người kiệt sức còn chi!

 

 (6) Con nằm đây giữa bao người chết,

như các tử thi vùi trong mồ mả

đã bị Chúa quên đi, và không được tay Ngài săn sóc.

 

 (7) Chúa hạ con xuống tận đáy huyệt sâu,

giữa chốn tối tăm, giữa lòng vực thẳm.

 

 (8) Cơn giận Chúa đè nặng thân con

như sóng cồn xô đẩy dập vùi.

 

 (9) Chúa làm cho bạn bè xa lánh

và coi con như đồ ghê tởm.

Con bị giam cầm không thể thoát ra,

 

 (10) mắt mờ đi vì quá nhiều đau khổ.

Lạy CHÚA, suốt cả ngày con kêu lên Chúa

và giơ tay hướng thẳng về Ngài.

 

 (11) Chúa đâu làm phép lạ cho người đã mạng vong,

âm hồn đâu trỗi dậy ca tụng Chúa bao giờ?

 

 (12) Trong mồ mả, ai nói về tình thương của Chúa?

Cõi âm ty, ai kể lại lòng thành tín của Ngài?

 

 (13) Những kỳ công Chúa, nơi tối tăm ai rõ?

Ðức công chính Ngài, chốn quên lãng ai hay?

 

 (14) Phần con đây, con kêu lên Ngài, lạy CHÚA,

mới tinh sương đã chờ chực nguyện xin.

 

 (15) Lạy CHÚA, thân con đây, Chúa nỡ nào ruồng rẫy,

ẩn mặt đi mà chẳng đoái hoài.

 

 (16) Từ thuở bé, con khổ đã nhiều và luôn ngắc ngoải,

Chúa làm con kinh hãi, con hoá ra thẫn thờ.

 

 (17) Bao cơn thịnh nộ, Ngài đổ ngập thân con,

bấy nỗi kinh hoàng khiến con rời rã.

 

 (18) Bủa vây con suốt ngày ngần ấy thứ,

dồn dập tư bề như nước bao la.

Cận thân Chúa khiến lìa xa,

chung quanh bầu bạn chỉ là bóng đêm.

 

Thánh Vịnh 89 (88):

Lòng nhân nghĩa của ÐỨC CHÚA đối với nhà Ða-vít

(1) Thi khúc. Của ông Ê-than, người Ét-ra.

 

(2) Tình thương CHÚA, đời đời con ca tụng,

qua muôn ngàn thế hệ

miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài.

 

 (3) Vâng con nói :”Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu,

lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời.”

 

 (4) Xưa Chúa phán :”Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn,

đã thề cùng Ða-vít, nghĩa bộc Ta,

 

 (5) rằng : dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời,

ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ.”

 

 (6) Lạy CHÚA, thiên đình xưng tụng những kỳ công của Chúa,

cộng đoàn chư thánh ca ngợi lòng thành tín của Ngài.

 

 (7) Trên cõi trời cao, nào có ai sánh tày ÐỨC CHÚA?

Trong hàng thần thánh, hỏi có ai giống CHÚA được chăng?

 

 (8) Thiên Chúa oai phong giữa triều thần thánh,

vô cùng lẫm liệt trên hết cả quần thần.

 

 (9) Lạy CHÚA là Chúa Tể càn khôn, nào ai được như Chúa?

Lạy CHÚA quyền năng, đức thành tín hầu cận quanh Ngài.

 

 (10) Chính Ngài chế ngự trùng dương ngạo nghễ,

dẹp yên bao sóng cả sóng cồn.

 

 (11) Chính Ngài giày xéo thủy thần Ra-háp, như giày xéo tử thi,

tay mạnh mẽ đập tan quân thù.

 

 (12) Trời là của Chúa, đất cũng là của Chúa,

hoàn vũ với muôn loài, chính Chúa dựng nên.

 

 (13) Ngài sáng tạo phương trời Nam Bắc;

núi Ta-bo cùng với đỉnh Khéc-môn

reo hò kính danh Ngài.

 

 (14) Cánh tay Ngài, cánh tay hùng dũng,

đầy quyền năng đã mạnh mẽ dương oai.

 

 (15) Bệ ngai vàng : này công minh chính trực,

quân tiền phong : đây tín nghĩa ân tình.

 

 (16) Hạnh phúc thay dân nào biết ca ngợi tung hô;

nhờ Thánh Nhan soi tỏ, họ tiến lên, lạy CHÚA.

 

 (17) Nhờ được nghe danh Ngài, họ suốt ngày hớn hở;

bởi vì Ngài công chính, nên họ được hiên ngang.

 

 (18) Sức hùng cường hiển hách của dân chính là Ngài,

hồng ân Ngài làm nổi bật uy thế chúng con.

 

 (19) Ðấng bảo vệ chúng con là người của ÐỨC CHÚA,

vua chúng con thuộc quyền Ðức Thánh của Ít-ra-en.

 

 (20) Xưa Chúa dùng thị kiến

phán bảo những người hiếu trung rằng:

Ta phù trợ một trang dũng sĩ,

cất nhắc lên một người trẻ trong dân.

 

 (21) Ta đã tìm ra nghĩa bộc Ða-vít,

đã xức dầu thánh tấn phong Người;

 

 (22) Ta sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ,

tay quyền năng củng cố vững vàng.

 

 (23) Thù địch sẽ không lừa Người nổi,

ác nhân chẳng sao hại được Người;

 

 (24) trước mặt Người, Ta sẽ nghiền nát quân cừu địch,

bọn thù ghét Người, Ta sẽ đập tan.

 

 (25) Ta sẽ yêu thương Người và giữ lòng thành tín,

nhờ danh Ta, Người được thêm uy vũ.

 

 (26) Thế lực Người, Ta cho trải dài đến Ðại Dương,

chủ quyền Người, cho mở rộng đến miền Sông Cả.

 

 (27) Người sẽ thưa với Ta: “Ngài chính là Thân Phụ,

là Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con được cứu độ!”

 

 (28) Phần Ta, Ta sẽ đặt Người làm trưởng tử,

cao cả hơn vua chúa trần gian.

 

 (29) Ta sẽ yêu thương Người đến muôn thuở

và thành tín giữ giao ước với Người.

 

 (30) Ta cho dòng dõi Người muôn năm tồn tại,

cho ngai vàng trường cửu tựa trời xanh.

 

 (31) Nếu con cái Người bỏ không giữ luật Ta,

chẳng sống theo điều Ta quyết định,

 

 (32) vi phạm những thánh chỉ Ta ban xuống,

chẳng tuân cứ mệnh lệnh Ta truyền,

 

 (33) thì Ta sẽ dùng roi sửa phạt lầm lỗi,

chúng gây nên tội, Ta phải đánh đòn.

 

 (34) Nhưng với Người, Ta quyết chẳng đoạn tình dứt nghĩa,

quyết không hề bội tín thất trung.

 

 (35) Giao ước của Ta, Ta sẽ không vi phạm,

miệng đã nói ra, Ta chẳng nuốt lời.

 

 (36) Một khi đã thề với danh nghĩa là Ðấng Thánh,

thì cùng Ða-vít, Ta chẳng thất tín đâu.

 

 (37) Dòng dõi Người sẽ trường tồn vạn kỷ,

 

 (38) trước mặt Ta, ngai báu Người bền vững tựa thái dương

muôn đời kiên cố như vầng nguyệt

đứng giữa trời cao làm nhân chứng trung thành.”

 

 (39) Thế mà nay Chúa lại khinh chê ruồng bỏ,

nổi lôi đình với đấng Ngài đã xức dầu tấn phong;

 

 (40) Chúa tiêu hủy giao ước với người nghĩa bộc,

quăng vương miện Người xuống đất đen.

 

 (41) Mọi tường lũy của Người, Chúa đều phá đổ,

thành trì kiên cố cũng đập tan hoang.

 

 (42) Người bị khách qua đường mạnh ai nấy cướp,

bị hàng xóm láng giềng thoá mạ.

 

 (43) Chúa nâng cao quyền thế bọn áp bức Người

và cho mọi kẻ thù được hớn hở mừng vui.

 

 (44) Mũi kiếm của Người, Chúa bắt quay ngược lại,

chẳng độ trì Người trong buổi giao tranh.

 

 (45) Chúa chấm dứt thời vàng son của Người,

và lật đổ ngai rồng xuống đất.

 

 (46) Chúa rút ngắn tuổi xuân Người lại,

trút nỗi nhục nhằn xuống toàn thân.

 

 (47) Ðến bao giờ, lạy CHÚA, Ngài còn lánh mặt?

Ngài lánh mặt mãi sao?

Ðến bao giờ cơn giận còn cháy bừng như lửa?

 

 (48) Xin nhớ rằng : đời con là một kiếp phù du,

loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi!

 

 (49) Sống làm người, ai không phải chết?

Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?

 

 (50) Ðâu cả rồi, lạy Chúa, nghĩa cũ với tình xưa

Ngài hứa cùng Ða-vít nhân danh chữ tín thành?

 

 (51) Lạy Chúa, xin nhớ rằng : các tôi tớ Ngài bị thoá mạ,

những lời phỉ báng của chư dân,

con đây vẫn chất chứa trong lòng.

 

 (52) Vâng, lạy CHÚA, kẻ thù Ngài thoá mạ,

theo sát gót mà buông lời thoá mạ

đấng Ngài đã xức dầu tấn phong.

 

 (53) Chúc tụng CHÚA đến muôn đời. Amen. Amen.

 

Thánh Vịnh 90 (89):

Ðời sống con người mong manh và mỏng giòn

(1) Lời cầu nguyện. Của ông Mô-sê, người của Thiên Chúa.

 

Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,

Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.

 

 (2) ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên,

địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành,

Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời.

 

 (3) Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,

Ngài phán bảo: “Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!”

 

 (4) Ngàn năm Chúa kể là gì,

tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,

khác nào một trống canh thôi!

 

 (5) Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,

như cỏ đồng trổi mọc ban mai,

 

 (6) nở hoa vươn mạnh sớm ngày,

chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.

 

 (7) Ngài thịnh nộ, chúng con phải mạng vong,

nổi trận lôi đình : thấy mà khủng khiếp!

 

 (8) Tội chúng con, Chúa bày ra trước mặt Ngài,

lỗi thầm kín, Thánh Nhan đều soi tỏ.

 

 (9) Chúa nổi xung, đời chúng con tàn tạ,

kiếp sống thoảng qua : một tiếng thở dài.

 

 (10) Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.

 

 (11) Cơn giận Ngài, ai lường được sức mạnh,

trận lôi đình, ai hiểu thấu căn nguyên?

 

 (12) Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.

 

 (13) Lạy CHÚA, xin trở lại ! Ngài đợi đến bao giờ?

Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây.

 

 (14) Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa,

để ngày ngày được hớn hở vui ca.

 

 (15) Xin ban tặng chúng con niềm hoan hỷ,

bù lại những tháng năm

Ngài đã bắt nếm nhục nuốt sầu.

 

 (16) Ước gì chúng con là tôi tớ Chúa

được thấy công trình Ngài thực hiện,

và con cháu chúng con được thấy vinh hiển Ngài.

 

 (17) Xin cho chúng con được vui hưởng

lòng nhân hậu của Chúa là Thiên Chúa chúng con.

Việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố,

xin củng cố việc tay chúng con làm.

 

Thánh Vịnh 91 (90):

Nương bóng Chúa toàn năng

(1) Hỡi ai nương tựa Ðấng Tối Cao

và núp bóng Ðấng quyền năng tuyệt đối,

 

 (2) hãy thưa với CHÚA rằng:

Lạy Thiên Chúa, Ngài là nơi con náu ẩn,

là đồn lũy chở che, con tin tưởng vào Ngài.”

 

 (3) Chính Chúa gìn giữ bạn

khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc.

 

 (4) Chúa phù trì che chở, dưới cánh Người, bạn có chỗ ẩn thân:

lòng Chúa tín trung là khiên che thuẫn đỡ.

 

 (5) Bạn không sợ cảnh hãi hùng đêm vắng

hay mũi tên bay giữa ban ngày,

 

 (6) cả dịch khí hoành hành trong đêm tối,

cả ôn thần sát hại lúc ban trưa.

 

 (7) Dù tả hữu có ngàn người quỵ ngã,

dù hai bên có chết cả vạn người,

riêng phần bạn, tuyệt nhiên không hề hấn.

 

 (8) Mở mắt coi, bạn liền thấy rõ

thế nào là số phận bọn ác nhân.

 

 (9) Vì bạn có CHÚA làm nơi trú ẩn,

có Ðấng Tối Cao làm chỗ nương thân.

 

 (10) Bạn sẽ không gặp điều ác hại,

và tai ương không bén mảng tới nhà,

 

 (11) bởi chưng Người truyền cho thiên sứ

giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường,

 

 (12) và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng

cho bạn khỏi vấp chân vào đá.

 

 (13) Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc,

đạp nát đầu sư tử khủng long.

 

 (14) Chúa phán: “Kẻ gắn bó cùng Ta sẽ được ơn giải thoát,

người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì.

 

 (15) Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại

lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên.

Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự,

 

 (16) cho sống lâu, tuổi thọ dư đầy

và hưởng ơn cứu độ Ta ban.”

 

Thánh Vịnh 92 (91):

Ca tụng ÐỨC CHÚA, Ðấng chính trực công minh

(1) Thánh vịnh. Thánh ca. Cho ngày sa-bát.

 

(2) Thú vị thay được tạ ơn CHÚA,

được mừng hát danh Ngài, lạy Ðấng Tối Cao,

 

 (3) được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm,

và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya,

 

 (4) hoà điệu sắt cầm gieo trầm bổng,

nhè nhẹ vấn vương khúc tỳ bà.

 

 (5) Lạy CHÚA, sự nghiệp Ngài khiến con mừng rỡ,

thấy việc tay Ngài làm, con phải reo lên:

 

 (6) Lạy CHÚA, công trình Ngài xiết bao vĩ đại,

tư tưởng Ngài thâm thuý lắm thay!

 

 (7) Người khờ dại nào đâu có biết,

kẻ ngu si chẳng hiểu điều này:

 

 (8) Bọn bất nhân dầu sởn sơ như cỏ,

phường gian ác có đua nở khoe tươi,

cũng là để bị diệt trừ vĩnh viễn.

 

 (9) Còn CHÚA, Ngài cao cả đến muôn đời.

 

 (10) Kìa những kẻ thù Ngài, lạy CHÚA,

kìa những kẻ thù Ngài tiêu vong,

bọn gian ác đều rã tan hết thảy.

 

 (11) Ngài cho con ngẩng đầu hãnh diện,

tựa như trâu ngạo nghễ giương sừng,

thân con, Ngài xức dầu thơm mát.

 

 (12) Mắt con nghênh những kẻ địch thù,

tai nghe biết lũ hại con mạt vận.

 

 (13) Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt,

lớn mạnh như hương bá Li-băng

 

 (14) được trồng nơi nhà CHÚA,

mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta;

 

 (15) già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả,

tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn,

 

 (16) để loan truyền rằng : CHÚA thực là ngay thẳng,

là núi đá cho tôi ẩn náu,

nơi Người chẳng có chút bất công.

 

Thánh Vịnh 93 (92):

ÐỨC CHÚA là Vua vũ trụ

(1) CHÚA là Vua hiển trị, CHÚA mặc oai phong tựa cẩm bào,

Người lấy dũng lực làm cân đai.

Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu không lay chuyển.

 

 (2) Ngai vàng Chúa kiên cố tự ngàn xưa:

Ngài hiện hữu tự muôn ngàn đời.

 

 (3) Sóng nước đã gầm lên, lạy CHÚA,

sóng nước đã gầm lên tiếng thét gào.

Sóng nước đã gầm lên, long trời lở đất.

 

 (4) Nhưng hơn hẳn tiếng nước ngàn trùng,

hơn hẳn sóng oai hùng ngoài biển cả,

CHÚA oai hùng ngự trị chốn cao xanh.

 

 (5) Lạy CHÚA, thánh chỉ Ngài thật là bền vững,

nơi đền vàng rực lên toàn thánh thiện

triền miên qua mọi thời.

 

Thánh Vịnh 94 (93):

ÐỨC CHÚA xử công minh cho người lành

(1) Lạy CHÚA là Chúa Trời trả báo,

lạy Chúa Trời trả báo, xin Ngài quang lâm!

 

 (2) Ðấng xét xử địa cầu, xin đứng dậy,

trả cho lũ kiêu căng xứng việc chúng làm.

 

 (3) Ðến bao giờ, lạy CHÚA,

đến bao giờ bọn ác nhân cứ mãi hỷ hoan?

 

 (4) Quân làm điều ác những ba hoa buông lời hỗn xược,

những vênh váo ngang tàng.

 

 (5) Chúng chà đạp dân riêng Ngài, lạy CHÚA,

hà hiếp dân Ngài chọn làm gia sản.

 

 (6) Chúng giết người quả phụ, giết khách ngoại kiều,

tàn sát cả cô nhi!

 

 (7) Chúng bảo rằng: “CHÚA đâu có thấy,

Thiên Chúa nhà Gia-cóp chẳng lưu tâm!”

 

 (8) Hãy lưu tâm, này quân đần độn nhất trên đời!

Bao giờ mới nên khôn, hỡi đồ ngu xuẩn?

 

 (9) Ðấng từng gắn đôi tai há lại không nghe được?

Ðấng nặn thành cặp mắt chẳng lẽ không thấy gì?

 

 (10) Ðấng sửa trị muôn dân lẽ nào không trừng phạt?

Ðấng dạy dỗ con người mà chẳng biết gì sao?

 

 (11) Tư tưởng phàm nhân, CHÚA đều biết cả:

thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài!

 

 (12) Lạy CHÚA, hạnh phúc thay kẻ được Ngài giáo huấn,

được Ngài lấy luật mà dạy dỗ bảo ban.

 

 (13) Ngài cho họ được bình an trong ngày hoạn nạn,

trong khi huyệt mả mở sẵn chờ kẻ ác nhân.

 

 (14) Vì CHÚA không ruồng rẫy dân Người,

chẳng bỏ rơi dân Người chọn làm gia sản;

 

 (15) công lý rồi ra sẽ trở lại pháp đình,

mọi tâm hồn chính trực sẽ tuân theo.

 

 (16) Ai đứng dậy giúp tôi chống bọn làm điều ác?

Ai sát cánh cùng tôi cự lại lũ gian tà?

 

 (17) CHÚA mà đã chẳng thương phù trợ,

thì hồn tôi đã vào chốn thinh lặng ngàn thu.

 

 (18) Lạy CHÚA, khi con nói: “Này chân con lảo đảo”,

tình thương Ngài đã đỡ nâng con;

 

 (19) lúc ưu tư đầy ắp cõi lòng, ơn Ngài an ủi khiến hồn con vui sướng.

 

 (20) Lẽ nào Chúa liên minh với bọn thẩm phán ác ôn,

bọn gieo tai rắc hoạ chẳng kể gì luật pháp?

 

 (21) Chúng tìm hại mạng sống người lành,

lên án tử cho người vô tội.

 

 (22) Nhưng CHÚA là thành luỹ chở che,

Chúa tôi thờ là núi đá cho tôi trú ẩn.

 

 (23) Tội của chúng, Người đổ trên đầu chúng,

Người tiêu diệt chúng vì điều dữ chúng làm,

ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ta, sẽ tiêu diệt chúng.

 

Thánh Vịnh 95 (94):

Lời mời gọi reo hò mừng ÐỨC CHÚA

(1) Hãy đến đây ta reo hò mừng CHÚA,

tung hô Người là Núi Ðá độ trì ta,

 

 (2) vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,

cùng tung hô theo điệu hát cung đàn.

 

 (3) Bởi ÐỨC CHÚA là Chúa Trời cao cả,

là Ðại Vương trổi vượt chư thần,

 

 (4) nắm trong tay bao vực sâu lòng đất,

giữ chủ quyền muôn ngọn núi vút cao.

 

 (5) Ðại dương Chúa đã tạo thành là của Chúa,

lục địa do tay Người nhào nắn cũng thuộc về Người.

 

 (6) Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,

quỳ trước tôn nhan CHÚA là Ðấng dựng nên ta.

 

 (7) Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,

còn ta là dân Người lãnh đạo,

là đoàn chiên tay Người dẫn dắt.

 

 (8) [Người phán] : “Các ngươi chớ cứng lòng

như tại Mơ-ri-va, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc,

 

 (9) nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức

và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.

 

 (10) Suốt bốn mươi năm, dòng giống này làm Ta chán ngán,

Ta đã nói : Ðây là dân tâm hồn lầm lạc,

 

 (11) chúng nào biết đến đường lối của Ta,

nên Ta mới thịnh nộ thề rằng:

Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta.”

 

Thánh Vịnh 96 (95):

ÐỨC CHÚA là Vua

và Thẩm Phán muôn dân

(1Sb 16,23-33)

(1) Hát lên mừng CHÚA một bài ca mới,

hát lên mừng CHÚA, hỡi toàn thể địa cầu!

 

 (2) Hát lên mừng CHÚA, chúc tụng Thánh Danh!

Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ,

 

 (3) kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,

cho mọi nước hay những kỳ công của Người.

 

 (4) CHÚA thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng,

khả tôn khả uý hơn chư thần,

 

 (5) vì chư thần các nước thảy đều hư ảo,

còn ÐỨC CHÚA, Người sáng tạo trời cao.

 

 (6) Trước thiên nhan, toàn uy phong rực rỡ,

trong thánh điện, đầy dũng lực huy hoàng.

 

 (7) Hãy dâng CHÚA, hỡi các dân các nước,

dâng CHÚA quyền lực và vinh quang,

 

 (8) hãy dâng CHÚA vinh quang xứng danh Người.

Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình CHÚA,

 

 (9) và thờ lạy CHÚA uy nghiêm thánh thiện,

toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan.

 

 (10) Hãy nói với chư dân : CHÚA là Vua hiển trị,

Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay,

Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.

 

 (11) Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng,

biển gầm vang cùng muôn hải vật,

 

 (12) ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ.

Hỡi cây cối rừng xanh,

 

 (13) hãy reo mừng trước tôn nhan CHÚA,

vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian.

Người xét xử địa cầu theo đường công chính,

xét xử muôn dân theo chân lý của Người.

 

Thánh Vịnh 97 (96):

ÐỨC CHÚA là Thẩm Phán

sẽ vinh quang ngự đến

(1) CHÚA là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên,

vui đi nào, ngàn muôn hải đảo!

 

 (2) Mây u ám bao phủ quanh Người,

bệ ngai rồng là công minh chính trực.

 

 (3) Ngọn lửa hồng mở lối tiên phong,

đốt tiêu tan địch thù tứ phía.

 

 (4) Ánh chớp của Người soi sáng thế gian,

địa cầu trông thấy mà run sợ;

 

 (5) núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan

vị Chúa Tể hoàn cầu.

 

 (6) Trời xanh tuyên bố Người là Ðấng chính trực,

hết mọi dân được thấy vinh quang Người.

 

 (7) Nhục nhã thay ai thờ ngẫu tượng,

huênh hoang vì những vật hư vô này.

Chư thần chư thánh, phục bái Chúa đi!

 

 (8) Ðược biết thế, Xi-on tưng bừng hoan hỷ;

thành thị miền Giu-đa hớn hở nhảy mừng

vì những phán quyết của Ngài, lạy CHÚA.

 

 (9) Chính bởi vì Ngài, muôn lạy CHÚA,

là Ðấng Cao Cả trên khắp địa cầu,

Ngài trổi vượt chư thần hết thảy.

 

 (10) Kẻ yêu CHÚA, hãy ghét điều gian ác,

Người giữ gìn tính mạng kẻ hiếu trung,

giải thoát họ khỏi tay phường độc dữ.

 

 (11) Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính,

niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay.

 

 (12) Trước nhan thánh CHÚA, người công chính hãy vui mừng

tưởng nhớ Thánh Danh mà dâng lời cảm tạ.

 

Thánh Vịnh 98 (97):

ÐỨC CHÚA,

Ðấng toàn thắng và xét xử muôn dân

(1) Thánh vịnh.

 

Hát lên mừng CHÚA một bài ca mới,

vì Người đã thực hiện bao kỳ công.

Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,

nhờ cánh tay chí thánh của Người.

 

 (2) CHÚA đã biểu dương ơn Người cứu độ,

mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân;

 

 (3) Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en.

Toàn cõi đất này đã xem thấy

ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.

 

 (4) Tung hô CHÚA, hỡi toàn thể địa cầu,

mừng vui lên, reo hò đàn hát.

 

 (5) Ðàn lên mừng CHÚA khúc hạc cầm dìu dặt,

nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca.

 

 (6) Kèn thổi vang xen tiếng tù và,

tung hô mừng CHÚA, vị Quân Vương!

 

 (7) Gầm vang lên, hỡi biển cả cùng muôn hải vật,

địa cầu với toàn thể dân cư!

 

 (8) Sông lạch ơi, vỗ tay đi nào,

đồi núi hỡi, reo mừng trước tôn nhan CHÚA.

 

 (9) Vì Người ngự đến xét xử trần gian,

Người xét xử địa cầu theo đường công chính,

xét xử muôn dân theo lẽ công bình.

 

Thánh Vịnh 99 (98):

ÐỨC CHÚA là Vua cao cả và là Ðấng Thánh

(1) CHÚA là Vua hiển trị : chư dân phải rụng rời;

Người ngự trên các thần hộ giá : địa cầu phải chuyển rung.

 

 (2) Ở Xi-on, CHÚA quả là vĩ đại, Người trổi vượt trên tất cả mọi dân.

 

 (3) Chư dân hãy xưng tụng danh Ngài,

danh vĩ đại khả tôn khả uý,

danh thánh thiện dường bao!

 

 (4) Ngài là vua uy dũng yêu chuộng công bình,

chính Ngài ấn định đường ngay lẽ phải;

trong nhà Gia-cóp, Ngài thực hiện điều chính trực công minh.

 

 (5) Hãy suy tôn ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng ta,

phủ phục trước bệ rồng, bởi Người là Ðấng Thánh

 

 (6) Mô-sê cùng A-ha-ron trong hàng tư tế Chúa,

cũng như Sa-mu-en trong số người cầu khẩn Thánh Danh!

Các ngài cầu khẩn CHÚA, Chúa thương đáp lại.

 

 (7) Từ cột mây, Chúa phán dạy các ngài,

các ngài đã tuân hành thánh ý, và chiếu chỉ Người ban.

 

 (8) Lạy CHÚA là Thiên Chúa chúng con, Chúa đã thương đáp lại,

Chúa là Thiên Chúa khoan dung khi xử với các ngài,

nhưng trừng phạt khi các ngài lầm lỗi.

 

 (9) Hãy suy tôn ÐỨC CHÚA là Thiên Chúa chúng ta,

hướng về núi thánh mà phủ phục,

vì ÐỨC CHÚA, Thiên Chúa ta thờ, quả thật là Ðấng Thánh.

 

Thánh Vịnh 100 (99):

Mời gọi vào đền thánh

để ca ngợi, tạ ơn ÐỨC CHÚA

(1) Thánh vịnh. Ðể tạ ơn.

 

Hãy tung hô CHÚA, hỡi toàn thể địa cầu,

 

 (2) phụng thờ CHÚA với niềm hoan hỷ,

vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo.

 

 (3) Hãy nhìn nhận CHÚA là Thượng Ðế,

chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người,

ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

 

 (4) Hãy vào cửa thánh điện cất tiếng tạ ơn,

tới khuôn viên đền vàng dâng lời ca ngợi,

tạ ơn Chúa và chúc tụng danh Người.

 

 (5) Bởi vì CHÚA nhân hậu,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,

qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.